NETSOFTUSA CENTER - Bạn có muốn ghép hệ thống lịch điện tử có sẵn vào tài khoản Google Calendar? Trong bài viết sau, Quản Trị Mạng sẽ giới thiệu với các bạn cách file iCal *.ics hoặc bất kỳ ứng dụng lịch trực tuyến nào vào Google Calendar một cách nhanh chóng và đơn giản.
Với những người làm văn phòng, quản lý hoặc kinh doanh... việc làm của họ yêu cầu về thời gian khá nghiêm và chính xác. Và Google Calendar đã thực sự trở thành 1 công cụ hỗ trợ không thể thiếu:
Trước tiên, các bạn cần upload file iCal hoặc CSV từ máy tính của bạn. Đăng nhập vào tài khoản Google Calendar, chọn đường dẫn Add > Import calendar:
Chọn file iCal hoặc CVS thích hợp từ máy tính của bạn và nhấn Import, lưu ý rằng các sự kiện sẽ được tự động nhập vào lịch, do đó không cần ghép thêm các lịch bên ngoài nữa:
Sau đó, bạn sẽ thấy tổng cộng bao nhiêu cuộc hẹn hoặc sự kiện đã được nhập thành công:
Và đây là kết quả của quá trình này, ứng dụng lịch trực tuyến của bạn sẽ có đầy đủ chức năng của Google Calendar như Google Maps... :
October 7, 2010
Hướng dẫn ghép iCal hoặc file *.ics vào Google Calendar
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:29 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH, THỦ THUẬT WINDOWS
June 10, 2008
Multi Packer: Tạo phần mềm portable chỉ trong 1 phút!

Làm thế nào để tạo ra phiên bản tự chạy mà không cần cài đặt (hay còn gọi là portable) cho các phần mềm ưa thích có lẽ vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải với rất nhiều thần dân IT.
Song, sau khi đọc qua bài viết hướng dẫn tạo phần mềm portable bằng tiện ích Multi Packer sau đây, chắc chắn bạn phải thốt lên “Sao việc này đơn giản thế nhỉ?”.
Điểm độc đáo của Multi Packer so với Thinstall là không đòi hỏi bạn bỏ thời gian theo dõi sự thay đổi nội dung của registry ngay khi cài mới phần mềm muốn tạo bản portable vào máy, giúp bạn tạo ra bản portable trong khoảng thời gian không tưởng (chỉ vài chục giây đến vài phút tùy thuộc cấu hình máy) và đặc biệt là cho phép đặt mật khẩu bảo vệ file portable. Hơn thế nữa, Multi Packer còn tích hợp thêm 2 tiện ích thú vị khác là đóng gói một trang web và slideshow hình ảnh thành file tự chạy (*.exe). Bạn tải miễn phí bản portable của Multi Packer 2.05 tại địa chỉ http://baongay.com/download (dung lượng 1,57MB).
Tải xong, bạn kích hoạt file Portable Multi Packer 2.05.exe để khởi động chương trình. Trong cửa sổ Step 1 - Select the type of pack that suits your needs hiện ra, bạn sẽ thấy 3 tùy chọn ứng với 3 chức năng chính của chương trình là: Application pack (tạo phần mềm portable), WebPage pack (đóng gói trang web thành file *.exe) và Picture slideshow (tạo slideshow hình ảnh dưới dạng file *.exe). Bạn đánh dấu vào chức năng muốn sử dụng và bấm Next để bắt đầu khám phá.
1. Application pack
Với sự trợ giúp của Application pack, việc chế tác bản portable cho các ứng dụng ưa thích chỉ là chuyện nhỏ. Các bước thực hiện tuần tự như sau:
- Đầu tiên, bạn cài đặt phần mềm muốn tạo bản portable vào máy (trong bài này, tôi sẽ tạo bản portable cho Auslogics BoostSpeed v4.0.0.52).
- Trong giao diện chính của Application pack, dưới khung Step 2 - Choose folder containing files, bạn duyệt đến thư mục cài đặt phần mềm (thông thường là nằm trong thư mục Program Files, ở đây là C:\Program Files\Auslogics\AusLogics BoostSpeed). Tiếp đó, bấm vào nút Add folder and its contents phía dưới để chọn và đưa toàn bộ nội dung thư mục này sang khung kế bên.
- Bước tiếp theo, bạn điều khiển con chạy từ khung bên phải, đưa chuột vào file thực thi chính của phần mềm này và bấm nút Set main .EXE (với AusLogics BoostSpeed, file thực thi chính là Integrator.exe). Ngay lập tức, tên của file thực thi này sẽ xuất hiện trong hộp Main executable. Xong, bạn bấm nút Next để chuyển bước.
Lưu ý: Đối với những phần mềm được tích hợp quá nhiều tính năng và khó xác định file thực thi chính, thì bạn hãy bấm phải chuột vào shortcut của nó trên desktop, chọn Properties và xem ở hộp Target là sẽ biết được ngay. 
- Ở bước này, chương trình cho phép bạn thiết lập mật khẩu bảo vệ file thực thi của bản portable bằng cách nhập mật khẩu giống nhau vào 2 hộp trống dưới khung Step 3 - Choose a password... Bạn giữ nguyên tùy chọn tại 2 mục Use compression (nén kích thước của bản portable đến mức tối đa) và Use exclusion list (nén mọi file nhúng trong bản portable mà không loại trừ định dạng nào). Tiếp đến, bạn bấm nút Browse, chọn tên và thư mục lưu file thực thi cho bản portable (chẳng hạn F:\Portable Auslogics BoostSpeed v4.0.0.52.exe). Sau cùng, bạn bấm nút Create để khởi tạo. Quá trình này thường diễn ra rất nhanh và kết thúc bằng thông điệp Done... successfully created. Bây giờ, bạn chỉ việc bấm đôi vào file thực thi (Portable Auslogics BoostSpeed v4.0.0.52.exe) vừa tạo ra, nhập vào mật khẩu bảo vệ nếu có yêu cầu, rồi bấm OK để tận hưởng thành quả. 
Lưu ý: Nếu bạn đã đăng ký phần mềm theo kiểu chép đè file crack lên file thực thi chính thì nội dung đăng ký đó vẫn được giữ lại trong bản portable.
2. WebPage pack
- Trước tiên, bạn copy thư mục chứa nội dung cùng file khởi động (dạng hmt hay html) của trang web muốn đóng gói thành file thực thi vào một thư mục nào đó, chẳng hạn D:\Windows® XP Live Edtion.
- Tiếp đó, bạn duyệt đến thư mục này từ khung Step 2 - Choose folder containing files và bấm nút Add folder and its contents.
- Ở khung kế bên, bạn đưa chuột vào file khởi động trang web nằm trên cùng (ở đây là Windows® XP Live Edtion.html) và bấm nút Set index file để thiết lập làm file index. Bạn nhập tiêu đề tùy thích cho trang web này vào hộp Caption, đánh dấu mục Show navigation toolbar nếu muốn nút điều khiển việc duyệt web vẫn được giữ lại lúc mở file thực thi, rồi bấm Next để chuyển sang bước kế tiếp
- Tại đây, bạn có thể đặt mật khẩu đòi hỏi phải có để khởi động trang web tương tự như tính năng Application pack. Sau đó, bạn bấm nút Browse, chọn tên và thư mục lưu file đóng gói nội dung trang web. Xong, bấm nút Create để khởi tạo.

3. Picture slideshow
- Trước hết, bạn bấm nút Add pictures và tìm chọn những hình ảnh dùng làm slideshow (hỗ trợ các định dạng jpg, jpeg, bmp, gif, wmf, emf, ico). Sau khi ảnh được nạp vào danh sách, bạn sử dụng nút Move Up hoặc Move Down khi muốn thay đổi vị trí của chúng. Chức năng của các nút còn lại: Edit comment (chèn thông điệp lên ảnh), Delete from list (xóa ảnh khỏi danh sách), Clear list (xóa toàn bộ ảnh trong danh sách để chọn lại).
- Dưới trường Additional slideshow options là những thông số mà bạn cần thiết lập cho slideshow này, trong đó đáng chú ý có: ẩn/hiện 2 nút tua hình Next và Previous; ẩn hiện 3 ô kiểm Autoslide (trình diễn slide tự động), Stretch (làm căng hình), Loop (tự động chiếu lại slideshow khi nó kết thúc), chọn khoảng thời gian giữa 2 lần thay đổi ảnh (tính theo giây), tạo hiệu ứng chuyển cảnh cho slideshow (Animated slideshow), tự động đóng slideshow khi hoàn tất (Close when slideshow done), chọn chiều dài và chiều rộng cho khung trình diễn ảnh khi trình chiếu (Window width) hoặc chọn kích thước tối đa (Show maximized), Caption (tiêu đề cho slideshow), Background color (màu nền xuất hiện phía sau ảnh). Với một lần bỏ chọn hoặc đánh dấu chọn một thông số nào đó, bạn có thể xem trước kết quả bằng nút bấm Preview show. Xong, bạn bấm Next.
- Bước còn lại, nếu muốn, bạn hãy thiết lập mật khẩu bảo vệ file thực thi slideshow ảnh tương tự như 2 tính năng nêu trên. Sau cùng, bạn chọn thư mục lưu file thực thi và bấm Create để khởi tạo. Hoàn tất, bạn bấm đôi vào file vừa tạo ra để thưởng thức slideshow. 
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:51 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
May 30, 2008
Tìm Hiểu HDD Và Sửa Chữa Phân Vùng HDD

Cluster gồm nhiều Sector liên tiếp nhau trên cùng 1 Track, tùy theo HDD và OS mà cluster có dung lượng khác nhau. Sector đánh số từ 0 đến hết đĩa.
Master boot record ( bảng ghi hoạt động chủ)
Luôn được định vị tại track (cylinder) 0, side (head) 0,và sector 1(512 bytes)
Được tạo khi tạo phân vùng đầu tiên trên HDD
Chứa thông tin quang trọng của HDD như:
Đoạn mã tìm nạp boot sector (executable code 446 bytes)
Bảng thông tin của các phân vùng (Partition Table 64 bytes)
Nhận diện MBR (2bytes)
Boot Sector
Sector đầu tiên ứng với các phân vùng chính chứa OS khởi động
Chứa đoạn mã nạp OS khởi động
Master File Table
Chứa tất cả các thông tin về file và thư mục
Mỗi filel được mien tả bởi 1 MFT
Record 0: Mô tả chính nó (lưu trong boot sector)
Record 1: Bản sao của Record đầu tiên
Record 2 Log file, dung để khôi phục tự động
Record …
Record 16: Mô tả file và thư mục
Mỗi Record <=1500 bytes
Lỗi Logic MBR
Khi HDD bị lỗi MBR thì không thể boot được OS
Thường thấy các biểu hiện như : Invalid partition table, Disk signature(0x55AA) is not present
Sửa chữa bằn cách sau:
Nếu dùng bằng đĩa Boot bạn sử dụng cú pháp sau : FDISK /mbr
Nếu dùng Recovery Console bạn sử dụng cú pháp : FIXMBR
Lỗi Logic Boot Sector
Khi HDD bị lỗi này sẽ không boot được OS
Thường thấy các biểu hiện như: first sector is bad/unreadable, Non system disk, disk erro..
Sửa chữa bằng cách sau :
Nếu dùng đĩa boot : SYS DRIVER
Nếu dùng Recovery console: FIXBOOT
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:45 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
April 10, 2008
17 phím tắt vô giá trên bàn phím
Bạn có thể sử dụng Windows hàng ngày. Bạn có thể biết nhiều thao tác sử dụng nó. Nhưng có thể đảm bảo rằng những phím tắt này sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian cực lớn.
F2: Đặt lại tên file trong lúc vội vàng có thể khiến bạn dễ dàng thao tác sai - click quá nhanh và bạn tình cờ mở một file. Đơn giản hơn là hãy nhấn phím F2 trên bàn phím khi file được chọn.
Ctrl + F2: Preview (xem lại) văn bản. Muốn bỏ chế độ preview, làm lại Ctrl + F2.
Shift + F3: Để làm nổi bật đoạn văn bản bằng chữ in hoa, đơn giản là bôi đen đoạn văn bản, nhấn đồng thời phím Shift + F3. Nếu muốn cho đoạn văn bản trở lại chữ thường, hãy lập lại động tác nhấn đồng thời Shift + F3. Muốn cho chữ cái đầu tiên trở thành chữ in hoa, đặt con trỏ trước chữ đó và nhấn phím Shift + F3
Windows + E: Windows Explorer là cổng tới file và tài liệu của bạn song để mở nó thường phải liên quan đến desktop hoặc thanh Start Menu. Có một cách khác nhanh hơn là nhấn phím Windows-E và nó sẽ đưa bạn đến ngay Computer (Vista) hay My Computer (XP), một vị trí mặc định sẵn.
Windows + F: Tìm kiếm file có thể là một rắc rối nếu bạn là một người tích trữ tài liệu và cách không lãng phí thời gian săn tìm file là sử dụng phím tắt
Windows + L: Động tác này sẽ khóa ngay PC của bạn mà không cần chờ cho đến khi chế độ bảo vệ màn hình hoạt động.
Windows + M: Vào cuối ngày làm việc, mọi người bị bội thực với một bộ sưu tập các cửa sổ đang mở.
Windows + R: Hộp Run này là cách tiết kiệm thời gian cực lớn với XP. Từ đây, bạn có thể mở tất cả loại ứng dụng mà không cần chuột.
Windows + F1: Trong khi F1 sẽ đưa ra cho bạn file Help (Hỗ trợ) trong hầu hết các ứng dụng,
Windows + Tab: Chuyển dịch giữa các chương trình bạn đang sử dụng. Ở XP, bạn có thể chuyển các cửa sổ bằng cách nhấn phím
Windows + Pause/Break: Với những người nâng cấp và điều chỉnh phần cứng, truy cập quản lý thiết bị Device Manager và các cài đặt là một nhiệm vụ thường xuyên. Phím tắt này sẽ đem lại ngay cửa sổ cần thiết cho họ trong nháy mắt.
Shift + Delete: Thùng rác Recycle Bin là chỗ tuyệt vời dành cho những ai hay xóa các file mà không suy nghĩ song nó cũng tiềm ẩn nguy cơ cho phép người khác có thể truy cập vào các file nhạy cảm. Giữ phím
Ctrl + Enter: Một khi bạn đã chọ thanh địa chỉ trong trình duyệt Firefox hoặc Internet Explorer, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng việc gõ chỉ phần giữa của một tên miền.
Alt + Esc: Nếu bạn cần chuyển nhanh đến một cửa sổ khi đang làm việc ở một cửa sổ khác, bạn có thể chọn nó từ thanh taskbar.
Alt + F4: Bỏ ứng dụng đang hoạt động hoặc tắt Windows nếu không có ứng dụng nào.
Alt + PrtScrn: Nếu bạn cần chụp một cửa sổ, chỉ cần giữ
Alt + Backspace: Trong Microsoft Office, bạn có thể làm lại bất kỳ hiệu chỉnh tự động nào và định dạng tự động bằng việc nhấn phím
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
12:44 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
March 9, 2008
Những nguyên nhân khiến máy tính hoạt động chậm

Các chương trình và tệp tin trên máy tính mới “đập hộp” luôn có tốc độ hoạt động nhanh như chớp. Đáng tiếc, “phong độ” của chúng không kéo dài và dần mất đi khả năng ban đầu.
Có nhiều lý do khiến máy tính chạy chậm nhưng chủ yếu rơi vào 3 vấn đề: thiết kế phần cứng, virus - spyware, hoặc PC gặp trục trặc xuất phát từ chính những biện pháp được áp dụng để sửa hai nguyên nhân trên.
Vấn đề ổ cứng:
-Tệp tin có dung lượng nhỏ thường được xếp vào vùng “chưa được sử dụng” - khoảng trống còn lại giữa các file. Những file lớn hơn lại bị xẻ nhỏ thành nhiều phần khác nhau, nằm rải rác, lộn xộn và tốn diện tích ổ cứng.
-Sự phân đoạn file (fragmentation) càng nhiều, quá trình tập hợp lại thông tin và xếp chúng theo trật tự càng lâu. Hơn nữa, tìm được một vùng trống để lưu dữ liệu cũng mất rất nhiều công sức. Khi đó, tốc độ hoạt động của máy tính sẽ bị giảm xuống, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi menu và truy cập file.
-Một trong những biện pháp đơn giản nhất để đối với PC “rùa” nằm ngay trong hệ điều hành Windows: tiện ích Disk Defragmenter và Disk Cleanup, được truy cập qua Start menu/ Accessories/System Tools.
+Disk Cleanup kiểm tra ổ để tìm những chương trình không cần thiết như file Internet tạm thời. Chạy phần mềm “dọn dẹp” này mỗi tháng một lần sẽ giúp ổ cứng luôn ngăn nắp.
+Disk Defragmenter là chương trình rất đáng tin cậy. Nó phân tích hiện trạng ổ cứng, tối ưu hóa thư mục và tệp tin, sau đó “gom” các bộ phận của file lại và xếp ở vị trí liền kề nhau. Khi đó, khả năng vận hành của PC và tốc độ truy cập file tăng lên đáng kể.
+Trong khi đó, gói sản phẩm Norton SystemWorks 2006 (69,99 USD) của Symantec gồm chức năng giảm phân tán (defrag) ổ cứng, xóa mục nhập Windows Registry cũ và sửa những tệp DLL có khả năng gây trục trặc hệ thống. PerfectDisk 7.0 (39,95 USD) của công ty Raxco Software cũng defrag và tập hợp khoảng trống nhằm giúp ổ cứng chạy theo trật tự trong một thời gian dài.
-Một trong những thao tác cần thiết là xóa chương trình thừa trước khi sử dụng trình giảm phân tán bằng cách mở Control Panel, chọn tính năng Add/Remove, đánh dấu những ứng dụng không bao giờ dùng và bấm nút Remove.
Phần mềm không cần thiết
-Ổ cứng vốn đã lộn xộn, máy tính lại còn phải “còng lưng” trước một danh sách dài những phần mềm được kích hoạt cùng thời điểm PC khởi động. Chúng thường là những chương trình được cài sẵn từ trước do sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất PC và các hãng phần mềm.
Rất nhiều phần mềm được cấu hình để hoạt động ngay khi máy tính được bật lên dù khách hàng không hề dùng đến chúng. Ít người để ý tới điều này bởi chúng không hiển thị rõ ràng trên màn hình. Tuy nhiên, chúng có một biểu tượng ở khay hệ thống và cứ yên vị nằm đó chờ ngày được khám phá.
-Những chương trình này tiêu tốn rất nhanh nguồn năng lượng của hệ thống. Thông thường, một PC cần khoảng 85 - 90% bộ nhớ trống sau khi khởi động. Nhưng nhiều phần mềm chạy cùng thời điểm bật máy có thể bòn rút tới 50% bộ nhớ trước khi mọi người kích hoạt ứng dụng thực như trình xử lý văn bản hay trình duyệt web.
-Để gỡ bỏ những ứng dụng không cần thiết, bấm Start, chọn Run, gõ msconfig và bấm OK. Lệnh này mở ra một công cụ cấu hình hệ thống tích hợp. Trong thanh Start-Up, lựa chọn chương trình muốn tắt, sau đó bấm OK. Lặp lại quá trình này nếu muốn một ứng dụng vừa gỡ hoạt động trở lại mỗi khi mở máy tính.
Virus và spyware
-Virus, spyware (phần mềm gián điệp) và adware (phần mềm quảng cáo) cũng là một lý do khiến máy tính hoạt động “như rùa bò”. Thuật ngữ “spyware” ám chỉ những chương trình chuyên xen vào hoạt động của PC như âm thầm thu thập thông tin cá nhân về người dùng hay cấu hình lại máy tính. Trong khi đó, “adware” chỉ phần mềm được các công ty quảng cáo hỗ trợ, còn “malware” là chương trình nguy hiểm (virus, sâu, Trojan…) gây trở ngại hoặc phá hỏng các ứng dụng PC.
-Để bảo vệ hệ thống trước nguy cơ trên, người dùng thường phải cài thêm công cụ chống spyware, tường lửa hoặc bộ lọc spam… Những biện pháp bảo mật đó có thể làm giảm 15% tốc độ vận hành của máy tính.
-“Máy tính hoạt động chậm do phần mềm nguy hiểm chạy trên nền sau của PC, nhưng cũng một phần vì các công cụ an ninh có dung lượng quá lớn”, Leon Rishniw, Phó giám đốc kỹ thuật của hãng bảo mật máy tính CloudMark (Mỹ), nhận xét. “Ngoài ra, nhiều ứng dụng bên thứ ba, như chương trình chia sẻ ngang hàng, không chỉ có chất lượng kém mà còn cài spyware và những thành tố khó xóa bỏ khác vào hệ thống”.
-Mọi người chỉ cần cài một chương trình bảo vệ bởi việc sử dụng 2 - 3 phần mềm cùng lúc có thể làm gián đoạn những ứng dụng khác. Riêng spyware là một chương trình phức tạp và dễ bị bỏ sót, người dùng nên chạy thêm một công cụ nữa.
-Để giảm nguy cơ và tăng tốc độ máy tính, mọi người nên quét hệ thống ít nhất một lần mỗi ngày. Hai công cụ miễn phí và được đánh giá cao hiện nay là SpyBot và Ad-Aware của Lavasoft. Ngoài ra Microsoft AntiSpyware cũng hỗ trợ bảo vệ hệ thống theo thời gian thực.
Bên cạnh đó, có thể kể đến một số phần mềm như SpySweeper của Webroot (29,95 USD), ZoneAlarm Internet Security Suite (69,95 USD) vad Panda Platinum Internet Security (79,95 USD)…
Theo netcafe
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:35 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
March 2, 2008
POP3 là gì?

POP3 (Post Office Protocol 3)
Nó là một chuẩn giao diện giữa chương trình E-mail client với Mail Server . POP3 và IMAP4 là giao thức truy cập chúng được dùng cho E.mail trên mạng Internet . POP3 cung cấp nới lưu trữ những bức thư và giữ chúng trên Mail Server cho đến khi người sử dụng truy cập vào và tải chúng về .
POP3 tải tất cả nội dung thư và những file đi kèm nếu bức thư đó được chọn để tải về.
Theo tvth1088
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:12 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
January 27, 2008
Địa chỉ IP được xem như là số nhà của bạn

Trong mạng, thiết bị nào cũng phải có địa chỉ riêng cho mỗi kết nối. Nhờ địa chỉ này, các gói tin trao đổi giữa hệ thống máy tính (máy chủ, máy khách) mới được nhận biết để chuyển đi, cũng như anh bưu tá phải biết số nhà để gửi thư.
IP là chữ viết tắt của Internet Protocol (giao thức Internet). Mỗi gói tin IP sẽ bao gồm một địa chỉ IP nguồn và một địa chỉ IP đích. Tất nhiên, hệ thống "số nhà" trên Internet phức tạp và thú vị hơn nhiều so với nhà cửa trong thực tế.
IP tĩnh và động
Mỗi thiết bị trong một mạng IP được chỉ định bằng một địa chỉ vĩnh viễn (IP tĩnh) bởi nhà quản trị mạng hoặc một địa chỉ tạm thời, có thể thay đổi (IP động) thông qua công cụ DHCP (giao thức cấu hình host động sẽ tự động xác định địa chỉ IP tạm thời) ngay trên Windows Server.
Các router (bộ định tuyến), firewall (tường lửa) và máy chủ proxy dùng địa chỉ IP tĩnh còn máy khách có thể dùng IP tĩnh hoặc động.
Thường thì các nhà cung cấp Internet DSL hay cáp sẽ chỉ định loại IP động cho bạn. Trong các router và hệ điều hành, cấu hình mặc định cho các máy khách cũng là IP động. Loại địa chỉ này hay được dùng cho máy tính xách tay kết nối Wi-Fi, PC truy cập bằng Dial-up hay mạng riêng.
Phân phối địa chỉ IP
Trên thế giới có hàng chục triệu máy chủ và hàng trăm nghìn mạng khác nhau. Do đó, để quản lý sao cho địa chỉ IP không trùng nhau, một tổ chức mang tên Network Information Center (NIC) ra đời với nhiệm vụ phân phối Net ID (địa chỉ mạng) cho các quốc gia. Ở mỗi nước lại có một trung tâm quản lý Internet làm công việc phân phối Host ID (địa chỉ máy chủ). Tại Việt Nam, nếu muốn thiết lập một hệ thống máy chủ, khách hàng có thể tới VNNIC để đăng ký IP tĩnh với mức phí từ 1 đến 285 triệu đồng, tùy theo quy mô sử dụng. (Xem chi tiết tại đây)
Cấu trúc và phân lớp địa chỉ IP
Các địa chỉ này được viết dưới dạng một tập hợp bộ số (octet) ngăn cách nhau bằng dấu chấm (.). Nếu biết địa chỉ IP của một website, bạn có thể nhập vào trình duyệt để mở mà không cần viết tên miền. Hiện nay có 2 phiên bản là IPv4 và IPv6, trong đó IPv4 là chuẩn đang dùng rộng rãi với độ dài 32 bit. Nhưng trong tương lai, khi quy mô của mạng mở rộng, người ta có thể phải dùng đến IPv6 là chuẩn 128 bit.
Xét trong phiên bản IPv4, địa chỉ 32 bit này được chia làm 4 bộ, mỗi bộ 8 bit (viết theo dạng nhị phân gồm các số 0 và 1) được đếm thứ tự từ trái sang phải. Bạn đọc có thể dùng trang web này để chuyển đổi giữa hai hệ đếm.
Nếu viết theo dạng thập phân (thường dùng để dễ nhận biết), địa chỉ IP có công thức là xxx.xxx.xxx.xxx, trong đó x là số thập phân từ 0 đến 9. Tuy vậy, khi 0 đứng đầu mỗi bộ số, bạn có thể bỏ đi, ví dụ 123.043.010.002 được viết thành 123.43.10.2.
Cấu trúc trên thể hiện 3 thành phần chính là
Class bit Net ID Host ID
Phần 1 là bit nhận dạng lớp, dùng để xác định địa chỉ đang ở lớp nào.
Địa chỉ IP được phân thành 5 lớp A, B, C, D, E, trong đó lớp D, E chưa dùng tới. Ta xét 3 lớp đầu với hệ đếm nhị phân.
Lớp A:
Như vậy, bit nhận dạng thứ nhất của lớp A bằng 0, 7 bit còn lại dành cho địa chỉ mạng Net ID, phần tiếp theo dành cho địa chỉ máy chủ Host ID. Vùng số của mạng được gọi là tiền tố mạng (network prefix). Lớp A áp dụng khi địa chỉ network ít và địa chỉ máy chủ nhiều. Tính ra, ta được tối đa 126 mạng và mỗi mạng có thể hỗ trợ tối đa 167.777.214 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết tính theo hệ đếm thập phân từ 0.0.0.0 đến 127.0.0.0 (thực tế ta không dùng các địa chỉ đều có giá trị bit bằng 0 hay 1).
Lớp B:
Bit nhận dạng của lớp B là 10, 14 bit còn lại dành cho Net ID. Lớp này áp dụng khi địa chỉ mạng và địa chỉ máy chủ ở mức vừa. Tính ra, ta được tối đa 16.382 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 65.534 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết từ 128.0.0.0 đến 191.255.0.0.
Lớp C:
Bit nhận dạng của lớp C là 110, 21 bit còn lại dành cho Net ID. Lớp này áp dụng khi địa chỉ mạng nhiều và địa chỉ máy chủ ít. Tính ra, ta được tối đa 2.097.150 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 254 máy chủ. Vùng địa chỉ lý thuyết từ 192.0.0.0 đến 223.255.255.0.
Địa chỉ IP cho mạng riêng
Trên thực tế, khi phạm vi hoạt động mạng mở rộng, nếu công ty phải đi xin thêm địa chỉ thì sẽ tốn kém. Hơn nữa, có khi một mạng nhỏ chỉ gồm vài chục máy chủ và điều này gây lãng phí rất nhiều địa chỉ còn lại. Do đó, người ta nghĩ đến mạng riêng (private network) để tận dụng nguồn tài nguyên. Các thiết bị trong một mạng nội bộ sẽ dùng địa chỉ IP riêng mà không kết nối trực tiếp với Internet.
Các mạng riêng này trở nên phổ biến với thiết kế LAN vì nhiều tổ chức thấy rằng họ không cần địa chỉ IP cố định trên toàn cầu cho mỗi máy tính, máy in, máy fax... Các router trên Internet thường được định cấu hình để từ chối kết nối dùng địa chỉ IP riêng. Chính sự "cách ly" này đã khiến mạng riêng trở thành hình thức bảo mật cơ bản vì người ngoài không kết nối trực tiếp được với máy trong network đó. Cũng vậy, do các mạng riêng này không thể kết nối trực tiếp với nhau nên chúng có thể dùng một vùng địa chỉ IP con giống nhau mà không gây xung đột gì.
Cách phân chia địa chỉ mạng con như sau:
Về bản chất, ta sẽ tận dùng các bộ số không dùng đến của địa chỉ máy chủ để mở rộng quy mô cho mạng. Subnet Mask (giá trị trần của từng mạng con) cho phép bạn chuyển đổi một mạng lớp A, B hay C thành nhiều mạng nhỏ, tùy theo nhu cầu sử dụng. Với mỗi giá trị trần này, bạn có thể tạo ra một tiền tố mạng mở rộng để thêm bit từ số máy chủ vào tiền tố mạng. Việc phân chia này sẽ dễ hiểu hơn khi bạn dùng hệ đếm nhị phân.
- Các bit được đánh số 1 nếu bit tương ứng trong địa chỉ IP là một phần của tiền tố mạng mở rộng.
- Các bit được đánh số 0 nếu bit là một phần của số máy chủ.
Ví dụ tiền tố mạng lớp B luôn bao gồm 2 bộ số đầu của địa chỉ IP, nhưng tiền tố mạng mở rộng của lớp B lại dùng cả bộ số thứ 3.
Ví dụ 1: Nếu có địa chỉ IP lớp B là 129.10.0.0 và bạn muốn dùng cả bộ số thứ 3 làm một phần của tiền tố mạng mở rộng thay cho số máy chủ, bạn phải xác định một giá trị trần của mạng con là: 11111111.11111111.11111111.00000000 (255.255.255.0). Như vậy, giá trị trần này chuyển địa chỉ của lớp B sang địa chỉ lớp C, nơi số máy chủ chỉ gồm bộ số thứ 4. Ký hiệu /24 thể hiện bạn đã dùng 24 bit đầu để làm tiền tố mạng mở rộng.
Ví dụ 2: Nếu bạn chỉ muốn dùng một phần của bộ số thứ 3 cho tiền tố mạng mở rộng, hãy xác định giá trị trần của địa chỉ mạng con là 11111111.11111111.11111000.00000000 (255.255.248.0), trong đó chỉ có 5 bit của bộ số thứ 3 được đưa vào tiền tố mạng mở rộng. Lúc này ta có ký hiệu /21.
Để xác định Subnet Mask dựa trên số máy chủ mình muốn, bạn có thể tham khảo bảng sau:
Số máy chủ Số bit sử dụng cho mạng mở rộng Giá trị trần
16.777.216 /8 255.0.0.0 Mạng lớp A
65.536 /16 255.255.0.0 Mạng lớp B
32.768 /17 255.255.128.0
16.384 /18 255.255.192.0
8.192 /19 255.255.224.0
4.096 /20 255.255.240.0
2.048 /21 255.255.248.0
1.024 /22 255.255.252.0
512 /23 255.255.254.0
256 /24 255.255.255.0 Mạng lớp C
128 /25 255.255.255.128
64 /26 255.255.255.192
32 /27 255.255.255.224
16 /28 255.255.255.240
8 /29 255.255.255.248
4 /30 255.255.255.252
Không sử dụng /31 255.255.255.254
1 /32 255.255.255.255 Địa chỉ máy chủ duy nhất
Chú ý: Địa chỉ đầu tiên và cuối cùng của mạng con được giữ lại, trừ /32 vì đây là địa chỉ máy chủ duy nhất.
Xác định địa chỉ để sử dụng với giá trị trần của mạng con
Địa chỉ cho lớp C
Đối với một mạng có từ 2 đến 254 máy chủ, bộ số thứ 4 sẽ được dùng đến, bắt đầu từ 0. Ví dụ, mạng con 8 máy chủ (/29) sẽ có vùng địa chỉ như sau:
Mạng con /29 (255.255.255.248) Vùng địa chỉ
192.168.0.0 192.168.0.0 - 192.168.0.7
192.168.0.8 192.168.0.8 - 192.168.0.15
192.168.0.16 192.168.0.16 - 192.168.0.31
... ...
192.168.0.248 192.168.0.248 -192.168.0.255
Chú ý: địa chỉ đầu tiên và cuối cùng của mạng con được giữ lại. Bạn không dùng được 192.168.0.0 hay 192.168.0.7.
Nói tóm lại, các vùng địa chỉ sau được chỉ định cho mạng riêng:
* 10.0.0.0 - 10.255.255.255 (lớp A)
* 172.16.0.0 - 172.31.255.255 (lớp B)
* 192.168.0.0 - 192.168.255.255 (lớp C)
Thiết lập và xem địa chỉ IP trên máy tính
Khi xây dựng một mạng nội bộ gồm máy chủ và máy khách, bạn sẽ phải vào hệ thống để lập địa chỉ IP. Nhấn chuột phải vào biểu tượng My network places, chọn Properties. Tiếp tục nhấp chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection > Properties > chọn Internet Protocol (TCP/IP) > Properties. Một bảng sau hiện ra:
Bạn có thể thiết lập IP tự động hoặc bằng tay. Ảnh chụp màn hình
Muốn xem địa chỉ này, bạn vào menu Start > All Programs > Accessories > Command Prompt. Khi màn hình Dos hiện ra, gõ ngay vào vị trí con trỏ chữ "ipconfig". Cách khác: Start > Run > gõ ipconfig > OK.
Khi một thiết bị nào đó trên network riêng cần liên hệ với các mạng khác, người dùng phải đảm bảo mạng ngoài có dùng địa chỉ IP thực để các router chấp nhận kết nối. Thường thì "cánh cổng" router này chính là thiết bị dịch địa chỉ mạng (NAT - network address translation) hoặc công đoạn đó được thực hiện nhờ một máy chủ proxy.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:47 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
January 4, 2008
“Sắm” PC mới mà không mất tiền

Bạn muốn sở hữu cùng một lúc nhiều HĐH khác nhau để thuận tiện cho công việc của mình, mà lại không muốn cài đặt quá nhiều hệ điều hành trên máy tính. Vậy thì hãy thử sử dụng Microsoft Virtual PC 2007.
Thông thường, để có thể sử dụng nhiều hệ điều hành khác nhau sao cho phù hợp với công việc của mình, bạn phải phân chia lại ổ cứng để cài đặt chúng sao cho thích hợp nhất. Vậy bạn có muốn sở hữu một lúc nhiều chiếc máy tính cá nhân, mà mỗi chiếc trên đó lại cài đặt một hệ điều hành khác nhau? Mỗi chiếc máy tính có đầy đủ những gì mà bạn cần, bộ nhớ trong, bộ nhớ ngoài, CDROM… Microsoft Virtual PC 2007 cho phép bạn xây dựng những chiếc máy tính như thế mà phải tốn thêm tiền để tậu về những chiếc máy tính thực sự.
Với Micrsoft Virtual PC, bạn có thể xây dựng trên máy tính mình đang sử dụng những chiếc máy tính ảo, mà mỗi máy lại mang trên mình một hệ điều hành khác nhau. Điều này cho phép bạn chạy thử các ứng dụng trên các môi trường khác nhau để thử kết quả của các chương trình đó để so sánh hiệu quả cũng như tính năng mà bạn không cần phải cài đặt các hệ điều hành khác nhau, rất rắc rối và phức tạp.
Virtual PC sẽ cho phép bạn tạo các máy tính ảo riêng rẻ với nhau, mà mỗi cái trongchúng đều có giả lập những thiết bị phần cứng, đáp ứng được như cầu sử dụng của bạn. Chẳng hạn, bạn đang sử dụng Windows Vista, nhưng lại muốn chaỵ một chương trình trên Windows XP, thì bạn không cần phải cài đặt cùng lúc cả Vista và XP, mà Virtual PC sẽ xây dựng cho bạn một máy tính hòan toàn mới sử dụng XP thay vì Vista như mặc định, do đó bạn có thể chạy các ứng dụng đó trên XP mà không cần phải cài đặt thêm XP lên hệ thống.
Virtual PC quả thực rất thích hợp với những ai làm công việc lập trình, muốn thử nghiệm các ứng dụng khác nhau trên nhiều hệ điều hành. Hoặc phục vụ cho công việc học tập, khi mà bạn muốn khai thác và so sánh những điểm khác nhau giữa các hệ điều hành khác nhau mà không có điều kiện “tậu” cho mình một chiếc máy mới.
Download Virtual PC hoàn toàn miễn phí tại đây.
Sau khi download, cài đặt và chạy chương trình, trong lần đầu tiên chương trình được kích hoạt, chương trình sẽ yêu cầu bạn thiết lập một số tùy chọn cho chiếc máy tính ảo của mình. Còn những lần tiếp theo kích hoạt chương trình, chương trình sẽ yêu cầu bạn xác nhận xem sẽ sử dụng chiếc máy tính đã được tạo ra trước đó hay là tạo mới cho mình một chiếc máy tính khác? Để sử dụng máy ảo đã được tạo ra trước đó, bạn click Start, ngược lại, để tạo mới cho mình, bạn click New, và để gỡ bỏ một máy tính ảo, bạn click Remove.
Cách để thiết lập cho mình một chiếc máy tính ảo:
Bước 1: Sau khi click New từ cửa sổ đầu tiên, quá trình thiết lập để bắt đầu tạo máy tính ảo sẽ được hiện ra, bao gồm 3 tùy chọn cơ bản :
- Creat a Virtual Machine: với tùy chọn này, bạn sẽ thiết lập lại các thiết lập mặc định để tạo cho mình một chiếc máy tính ảo phù hợp.
- Use default Settings to creat a virtual machine: tạo máy tính ảo với những thiết lập mặc định. Bạn không cần phải thiết lập lại, nhưng đôi khi không phù hợp với nhu cầu sử dụng của bạn.
- Add an existing virtual machine: với tùy chọn này, bạn có thể di chuyển máy tính ảo mình tạo ra từ máy tính này sang máy tính khác mà không cần phải tạo lại một máy tính ảo khác.
Bạn chọn Creat a Virtual Machine để tự thiết lập các tùy chọn cần thiết rồi nhấn Next
Bước 2:
Chương trình yêu cầu bạn đặt tên cho máy tính ảo sắp được tạo ra, đồng thời bạn chọn vị trí để lưu máy tính ảo trên máy tính thật để sử dụng. Sau khi đặt tên và chọn vị trí để lưu lại máy tính ảo, bạn nhấn Next.
Bước 3: đây là bước quan trọng nhất. Chương trình sẽ yêu cầu bạn chọn hệ điều hành được sử dụng trên máy tính ảo. Chẳng hạn bạn muốn chạy Windows XP trên hệ điều hành chính đang được sử dụng là Windows Vista, thì bạn chọn Windows XP trong danh sách được đưa ra. Lưu ý khi chọn hệ điều hảnh ảo, đó là mỗi hệ điều hành này có những yêu cầu khác nhau về thiết bị phần cứng. Để có thể giả lập chúng, phần cứng trên máy tính bạn phải đáp ứng được các nhu cầu đó. Tất nhiên, những yêu cầu này là thấp hơn rất nhiều so với cài đặt một hệ điều hành thật. Sau khi chọn được hệ điều hành thích hợp, bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.
Bước 4:
Tại bước này, bạn cần phải thiết lập dung lượng bộ nhớ mà máy tính ảo sẽ sử dụng. Bạn có thể sử dụng bộ nhớ tối thiểu mà máy tính ảo cần, tuy nhiên, nếu bạn dư dả về dung lượng bộ nhớ cũng như muốn truy xuất nhanh hơn trên máy tính ảo, bạn có thể thiết lập lại dung lượng cho bộ nhớ ảo này. Bộ nhớ ảo này phải phụ thuộc vào bộ nhớ thật có trên hệ thống, nghĩa là không được thiết lập dung lượng lớn hơn dung lượng tối đa mà hệ thống có. Bạn nên thiết lập dung lượng bộ nhớ ảo bằng ½ so với bộ nhớ thật. Sau khi đã thiết lập xong, bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.
Bước 5:
Tại bước tiếp theo này, bạn cần phải thiết lập cho ổ cứng sử dụng trên máy tính ảo. Nếu đây không phải là lần đầu tiên bạn xây dựng máy tính ảo, thì bạn có thể sử dụng ổ cứng ảo đã được tạo ra trước đó, thì bạn có thể chọn tùy chọn An existing Virtual Hard Disk và nhấn Next. Ngược lại, bạn chọn tùy chọn A new virtual hard disk rồi bấm next để tạo ổ cứng ảo cho mình.
Tại đây, bạn sẽ được chọn dung lượng cho ổ cứng ảo mà bạn có thể sử dụng, và tất nhiên, dung lượng này cũng phải phụ thuộc vào dung lượng thực sự mà bạn có trên ổ cứng. Sau khi đã thiết lập xong dung lượng và chọn đường dẫn, để những dữ liệu trên ổ cứng có thể lưu lại tại đó, bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.
Vậy là đã hoàn các bước để xây dựng cho mình một chiếc máy tính ảo. Máy tính ảo sẽ hoàn toàn giống một chiếc máy tính thật, với các thông số do bạn thiết lập ở trên. Bạn nhấn Finish để kết thúc quá trình cài đặt.
Bây giờ, hãy kích hoạt lại chương trình, chọn đến chiếc máy tính ảo vừa tạo ra, và nhấn Start, bạn sẽ hòan toàn bị bất ngờ. Một cửa sổ bao gồm quá trình khởi động, màn hình chào… y hệt như một hệ điều hành thứ thiệt đang được khởi động trên một chiếc máy tính mới. Mọi hoạt động, cài đặt và làm việc trên chiếc máy tính này không khác gì bạn làm việc trên chiếc máy tính của bạn.
Nếu như trong quá trình sử dụng, bạn muốn thay đổi một số tùy chọn đã được thiết lập trước đó, bạn kích hoạt chương trình, bạn click Settings để thiết lập lại những tùy chọn đó. Sau đây là một số tùy chọn mở rộng mà trong quá trình xây dựng trước đó không được nhắc đến :
- Hard Disk: Thiết lập ổ cứng cho máy tính ảo. Mục này bao gồm 3 tùy chọn cho bạn : Hard Disk 1, Hard Disk 2, Hard Disk 3. Tuy nhiên chỉ cần lưu ý đến Hard Disk 1. Hard Disk 1 là ổ cứng hệ thống cho máy tính ảo, nghĩa là bạn có thể xây dựng cho chiếc máy tính mới của mình cùng lúc 3 ổ cứng, như khi kích hoạt nó thì Hard Disk 1 sẽ được gọi đầu tiên. Bạn chỉ cần thiết lập cho mình 1 chiếc ổ cứng là đủ.
- Networking: Card mạng mà bạn sẽ sử dụng để kết nối Internet khi làm việc trên máy tính ảo. Cả 2 hệ điều hành trên máy ảo và máy tính thực sự đều có thể sử dụng chung 1 card mạng, do đó bạn không cần phải lắp đặt 2 card mạng khác nhau cho 2 máy tính.
- Display: Cách thức hiển thị của máy tính ảo. Bạn có thể cho phép máy tính hiển thị toàn màn hình (chế độ Full Screen) hoặc dưới dạng cửa sổ để có thể tiện làm việc cùng lúc trên 2 hệ điều hành.
Cấu hình yêu cầu để có thể sử dụng chương trình: không quá cao, thâm chí có thể nói là rất thấp.
- CPU 400MHZ hoặc hơn. Chương trình hỗ trợ các dòng chipset AMD, Athlon/Duron, Intel Celeron trở lên.
- Card màn hình độ phân giải 800 x 600 hoặc cao hơn.
- Bộ nhớ 128 MB RAM
Đó là tất cả những gì bạn cần biết để có thế sử dụng thành thạo chương trình. Tuy nhiên, chương trình lại mắc phải một khuyết điểm đáng tiếc là trong các hệ điều hành ảo có thể sử dụng lại không có hệ điều hành Linux, một thiết sót không biết vô tình hay cố ý của Microsoft. Một nhược điểm khác của chưong trình, đó là chỉ cho phép giả lập ổ đĩa mềm chứ không giả lập USB, tuy nhiên, điều này cũng không thực sự cần thiết.
Sự thực, với một phần mềm miễn phí như Virtual PC 2007 thì những lợi ích mà nó mang lại quả là quá đầy đủ và mạnh mẽ. Hãy “sắm” thêm cho mình vài chiếc máy tính mới mà không hề tốn 1 đồng nào cả. Còn chờ gì nữa ?
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:18 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
Làm sao biết máy tính bạn có tương thích với Vista?

Bạn muốn nâng cấp hệ điều hành Windows Xp lên Windows VistaNgười đọc luôn cần những thông tin hữu ích có liên quan! Hãy liên hệ 1-678-937-0274 để đăng thông tin của bạn. Click vào để xem chi tiết... Bạn có chắc rằng thành phần phần cứng của máy tính mình có tương thích với hệ điều hành VistaNgười đọc luôn cần những thông tin hữu ích có liên quan! Hãy liên hệ 1-678-937-0274 để đăng thông tin của bạn. Click vào để xem chi tiết.. hay không? Từ khi ra phiển bản VistaNgười đọc luôn cần những thông tin hữu ích có liên quan! Hãy liên hệ 1-678-937-0274 để đăng thông tin của bạn. Click vào để xem chi tiết.., Microsoft đã phát triển một phần mềm nhỏ có tên gọi Windows Upgrade Advisor 1.0 để giúp bạn xác định điều này.
Bạn vào đây để tải chương trình. (để cài đặt phần mềm này bạn cần có NET 2.0 framework)
Microsoft khuyên bạn nên để nguyên các thiếc bị kết nối như máy in, máy scan… để kiểm tra sự tương thích của tất cả các thiết bị đó.
Sau khi cài đặt biểu tượng chương trình sẽ xuất hiện trên desktop. Mở chương trình lên và nhấn Start Scan.
Click See Details để xem máy tính bạn có tương thích với VistaNgười đọc luôn cần những thông tin hữu ích có liên quan! Hãy liên hệ 1-678-937-0274 để đăng thông tin của bạn. Click vào để xem chi tiết.. hay không. Một cửa sổ hiển thị kết quả sẽ hiện ra.
Phầm mềm còn cho bạn biết phiên bản VistaNgười đọc luôn cần những thông tin hữu ích có liên quan! Hãy liên hệ 0907.500.825 để đăng thông tin của bạn. Click vào để xem chi tiết.. nào là thích hợp nhất dành cho máy tính của bạn.
Chúc bạn thành công!
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
8:49 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
December 11, 2007
Mẹo hay trong Windows
My Documents.
Bạn đang băn khoăn về cách thức để thực hiện các thao tác như: cấp phát chức năng người dùng, chuyển My Documents sang ổ D, tự động mở CD theo nội dung, dồn đĩa. Nếu vậy, hãy tìm hiểu những mẹo nhỏ dưới đây:
1. Chuyển My Documents sang ổ D
Theo cấu hình đã được cài đặt sẵn trong đĩa hệ điều hành WinXP hoặc Win2000, thư mục “My Documents” sẽ được mặc định là nằm trong ổ C. Tuy nhiên, do ổ C là nơi thường được format lại mỗi lần cài đặt lại hoặc cài đặt mới hệ điều hành, nên thường chỉ lưu những file cài đặt, những file này sẽ dễ dàng cài đặt lại nếu như có phần mềm. Do đó, chuyển đổi vị trí “My Documents” sang ổ D được xem là quan trọng và thiết yếu. Để thực hiện được như vậy, trước tiên bạn kích chuột phải vào folder “My Documents”, chọn Property. Tại mục “Target Folder Location” xoá bỏ đường dẫn mặc định đi và thay bạn nhập đỉa chỉ vị trí mới (giả sử như ổ D: D:Documents) để làm nơi lưu trữ mới của “My Documents”
2. Đăng nhập bằng Power User
Thông thường khi đăng nhập vào hệ thống bằng account của Administrator hoặc Client, hệ thống của bạn có thể trở thành đối tượng tấn công của một số loại virus có khả năng lây lan và xâm nhập mạnh như: W32, Trojan horse. Tuy nhiên bạn có thể loại trừ khả năng hoặc giảm tới mức tối thiểu sự tấn công của vi rút bằng cách đăng nhập vào máy tính thông qua quyền Power User.
Quyền đăng nhập bằng Account Power User vẫn cho phép thực hiện đầy đủ các chức năng của Windows. Để giảm quyền, chọn Start/Run, nhập dòng chữ “lursmgr.msc”, sau đó nhấn phím Enter. Chọn Groups và kích đúp chuột vào Administrators. Tuy nhiên, để thực hiện được như vậy bạn phải có ít nhất một account trong danh sách Members với tư cách là Administrator. Sau đó, chọn account mà bạn muốn giảm quyền trước tiên chọn Remove/OK, sau đó nhấn đúp chuột trái vào Power User, kích vào nút Add, đánh tên account của bạn, và lại nhấn OK. Đặc biệt, khi dùng Power User bạn có thể chuyển về quyền Administrator một cách dễ dàng nếu muốn.
3. Dồn đĩa
Dung lượng các thu mục và tập tin đang đầy lên có thể làm cho ổ cứng của bạn mỗi ngày thêm chật chội. Tuy nhiên bạn có thể dồn đĩa lại để tạo ra những khoảng trống mới cho ổ đĩa. Để có thể nén các thư mục và tập tin, ổ đĩa của bạn phải được định dạng theo NTFS (nếu ổ đĩa của bạn không phải là NTFS, hãy sử dụng phần mền Partition Magic, bạn có thể tải phần mền này miễn phí tại trang Download.com về). Thao tác dồn đĩa như sau: Nhấn chuột phải lên tập tin và thu mục muốn nén và chọn Properties. Trên thẻ General, chọn Advance. Đánh dấu lên mục Check Compress contents to save disk space và nhấn OK.
4. Tự động mở CD theo nội dung
Thông thường, khi người dùng đưa một đĩa CD bất kỳ vào trong ổ CD hay còn gọi là ổ CD-ROM, trên màn hình máy tính sẽ xuất hiện một ra một cửa sổ mới, trong đó hiển thị dưới dạng danh sách những hành động cần lựa chọn. Người dùng có thể kích chuột vào box chứa nội dung cho phép trả lời một lần cho mỗi loại nội dung. Tuy nhiên, nếu bạn không muốn bị phân tâm bởi chế độ tự động bật CD theo nội dung này, bạn có thể tắt bỏ nó đi. Để thực hiện được như vậy, trước tiên bạn nhấn chuột lên ổ đĩa CD trong cửa sổ Explorer và chọn Properties, ở trong thẻ AutoPlay, chọn nội dung thích hợp theo ý muốn của bạn từ sách hiển thị ra. Để tắt chức năng tự động mở với một nội dung thích hợp bạn chỉ định nội dung cho nó bên dưới là: Take no Action và nhấn OK.
Theo Dân Trí
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:17 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
Tìm hiểu các loại bộ nhớ trên thị trường

Bộ nhớ là nơi lưu trữ dữ liệu để máy tính thực hiện các tác vụ, được chia thành hai dòng chính: bộ nhớ tạm thời (RAM, DDR...) và bộ nhớ vĩnh viễn (flash, SSD) không mất dữ liệu khi tắt điện
RAM là bộ nhớ trong, chỉ lưu các dữ liệu cần thiết để thực hiện tác vụ và các thông tin này sẽ mất đi khi không có điện, khác với ổ cứng (các thông tin vẫn còn khi tắt nguồn điện). Dung lượng RAM càng lớn thì càng có nhiều không gian để quản lý chương trình chạy trên máy tính và do đó, chiếc PC trở nên đa dụng và hoạt động nhanh hơn.
Hiện nay, bên cạnh việc đẩy dung lượng bộ nhớ lên 1 GB, 2 GB..., các nhà sản xuất còn dùng công nghệ trên bo mạch chủ để chia 2 kênh cho RAM, nghĩa là dữ liệu có 2 "đường" để truyền tới chip. "Module kênh đôi sẽ gửi tín hiệu tới vi xử lý cùng một lúc", Marc Bernier, chuyên gia của hãng Kingston, nói. "Do đó, băng thông chung được tăng lên".
Như vậy, khi dùng mainboard có chipset hỗ trợ "dual channel", người sử dụng cắm 2 thanh RAM 512 MB cùng loại vào đúng khe thì tốc độ máy tính có thể cao hơn so với một thanh RAM 1 GB.
Ngoài ra, chuẩn DDR (Double Data Rate - gấp đôi tốc độ truyền dữ liệu) là một phương pháp đẩy mạnh tốc độ truyền thông tin của RAM mà không thay đổi front-side bus (đường dữ liệu cao tốc giữa chip và bộ nhớ chính).
Ví dụ, khi dữ liệu được truyền 64 bit/lần, chip nhớ sẽ cho tốc độ truyền dẫn theo công thức: Tốc độ của [xung đồng hồ x 2 (hiệu số tăng gấp đôi tốc độ) x 64 (số bit được truyền đi)] / 8 (số bit của byte). Do đó, một chip nhớ theo chuẩn DDR - 200 100 MHz sẽ cho tốc độ truyền dữ liệu tối đa là 1.600 MB/giây.
Sau đó, DDR được nâng cấp lên các chuẩn DDR2, DDR3, DDR4 với khả năng cải thiện tốc độ theo cấp số nhân. Ví dụ: DDR2 lưu dữ liệu trong các ô được kích hoạt bởi việc dùng xung nhịp đồng hồ để đồng bộ hóa hoạt động với bus dữ liệu. Giống như DDR, các ô nhớ trong chuẩn DDR2 truyền thông tin dựa theo biên độ dao động lên xuống của đồng hồ (gọi là kỹ thuật double pumping). Điểm khác nhau giữa hai chuẩn này ở chỗ trong DDR2, bus được đẩy xung lên gấp đôi tốc độ của các ô nhớ, do đó 4 từ dữ liệu được truyền đi trong một vòng ô nhớ. Vì vậy, không cần nâng cao tốc độ của chính các ô nhớ, DDR2 có thể hoạt động nhanh gấp đôi bus của DDR.
Hiện nay, DDR và DDR2 đang được sử dụng rộng rãi cho bộ nhớ hệ thống, còn DDR3, DDR4 thường xuất hiện trong bộ nhớ của card đồ họa cao cấp.
Tên chuẩn Xung đồng hồ Xung bus Dữ liệu truyền bit/giây
DDR2-400 100 MHz 200 MHz 400 triệu
DDR2-533 133 MHz 266 MHz 533 triệu
DDR2-667 166 MHz 333 MHz 667 triệu
DDR2-800 200 MHz 400 MHz 800 triệu
DDR2-1066 266 MHz 533 MHz 1066 triệu
Tên module Xung đồng hồ Kiểu chip nhớ Tốc độ truyền tối đa
PC2-3200 200 MHz DDR2-400 3,2 GB/giây
PC2-4200 266 MHz DDR2-533 4,264 GB/giây
PC2-5300 333 MHz DDR2-667 5,336 GB/giây
PC2-6400 400 MHz DDR2-800 6,4 GB/giây
PC2-8500 533 MHz DDR2-1066 8,5 GB/giây
Công nghệ flash
Không chỉ có công nghệ hỗ trợ RAM đang trên đà tăng tốc, thị trường bộ nhớ USB cũng phát triển mạnh. Bên trong ổ USB nhỏ gọn là một phương thức lưu trữ mang tên bộ nhớ flash.
Microsoft vừa phát triển một hệ thống dùng thẻ nhớ USB để tăng tốc bộ nhớ trong của máy tính chạy hệ điều hành Windows Vista. Tính năng Ready Boost của Vista sẽ sử dụng phần còn trống của thẻ nhớ flash làm bộ nhớ ảo (tương tự như Page File trên đĩa cứng), hỗ trợ chuyển các file thường xuyên được truy cập vào bộ nhớ flash trong thẻ USB để hệ thống chạy nhanh hơn.
Bộ nhớ thể rắn SSD
Các hãng sản xuất bộ nhớ flash như SanDisk và Samsung đang dùng công nghệ bán dẫn để phát triển thiết bị thay thế ổ cứng cơ - từ, gọi là đĩa thể rắn (SSD - Solid State Disk).
"Đĩa thể rắn thực ra là thiết bị bao gồm đa phương tiện flash và một trình điều khiển, không có các phần cơ học di chuyển nào", Doreet Oren, chuyên gia của SanDisk, cho biết. "Khi dùng đĩa flash, người sử dụng không phải lo lắng vì sự chậm trễ thường thấy ở thiết bị có đầu đọc - ghi dữ liệu thông thường như ổ cứng".
Theo các nhà sản xuất, đĩa SSD về mặt lý thuyết có khả năng hoạt động gấp hàng trăm lần so với ổ cứng vì không phải dò từng ô nhớ để tải một file nào đó. Ưu điểm của SSD là bền (do không chứa các kết cấu cơ học), tốc độ nhanh hơn, êm hơn và nhẹ hơn các sản phẩm lưu trữ khác.
Tuy nhiên, loại đĩa này có giá thành đắt đỏ và cần thời gian để trở nên phổ biến hơn.
(theo vnexpress, BBC
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:15 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
Thủ thuật Windows

1. Nhập nhanh đầy đủ địa chỉ trang web trong IE. Trong Internet Explorer thay vì bạn phải nhập đầy đủ các đường dẫn đến các trang cần mở như www.thanhnien.com.vn thì bạn chỉ cần nhập thanhnien.com.vn trong thanh Address Bar rồi nhấn tổ hợp phím Ctrl+Enter thì đường link sẽ được hiển thị đầy đủ bao gồm cả giao thức http:// và www.
2. Tăng tốc độ khởi động Windows lên
Bạn truy xuất vào menu Start > Run sau đó gõ dòng lệnh Regedit vào rồi bấm Enter. Sau đó truy xuất đến khoá HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft
\Dfrg\BootOptimizeFunction. Từ cửa sổ phía bên tay phải bạn hãy nhấn đúp chuột vào từ khoá Enable rồi thay đổi giá trị Value Data trong đây từ Y thành N. Thoát khỏi regedit và khởi động lại máy tính và bạn sẽ thấy máy tính được nạp nhanh hơn từ 5-10 giây tuỳ theo cấu hình máy bạn.
3. Tăng tốc độ khi kích hoạt Word và Excel
Mỗi khi bạn kích hoạt Word và Excel thì chúng ta đều phải chờ cho qua bước giới thiệu phiên bản của Word và Excel hay còn được gọi là Splash Form. Đối với một số cấu hình máy tính yếu việc chờ cho qua bước giới thiệu này sẽ làm bạn tiêu tốn một số thời gian chờ nhất định. Để tiết kiệm thời gian mở Word và Excel bạn có thể áp dụng chiêu thức sau để loại bỏ công đoạn trên.
Từ giao diện desktop, bạn hãy nhấn phải chuột vào biểu tượng shorcut của Word hoặc Excel rồi chọn Properties. Tại đây bạn hãy tìm đến vị trí tuỳ mục Target rồi thêm chữ /q vào cuối dòng lệnh sau đó bấm OK để xác nhận thủ thuật này.
Theo thanhnien
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:13 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
Tự động tắt máy tính theo thời gian định trước

Thay vì phải sử dụng các phần mềm tự động tắt máy tính sau một khoảng thời gian định trước, lo lắng bản quyền của phần mềm và tốn thời gian tìm hiểu để có thể sử dụng được chương trình. Bạn có thể sử dụng tính năng tự động tắt máy tính bằng dòng lệnh (có thể áp dụng trong Windows Xp/Vista).
Từ môi trường Windows, bạn hãy nhấn vào menu Start > Run. Tại hộp thoại Run bạn hãy nhập dòng lệnh shutdown -s -t và thời gian muốn máy tính được tự động được tắt (được tính bằng giây) vào. Ví dụ nếu bạn muốn máy tính sẽ được tắt đi sau khoảng 2 tiếng và bạn có thể nghỉ ngơi để đi ngủ thì trong hộp thoại Run dòng lệnh tương đương trong ví dụ này sẽ là shutdown -s -t 7200. Cuối cùng bấm vào nút Ok để chấp nhận việc kích hoạt cho thủ thuật này.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:11 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
December 8, 2007
10 điều cần biết về vi xử lý 4 lõi

Chip theo công nghệ này hoạt động tốt nhất với các máy chủ và tạo ra sự khác biệt trên desktop cao cấp dành để chơi game và hoạt động khoa học phức tạp. Người tiêu dùng thông thường không cần đến nó.
Tháng 11/2006, Intel giới thiệu vi xử lý 4 lõi đầu tiên cho thị trường x86 hứa hẹn hoạt động tốt hơn dòng lõi đơn, lõi kép trước đó. Chưa đầy một năm sau, AMD tung ra Opteron để cạnh tranh.
1. Intel và AMD hướng đến 4 lõi bằng cách khác nhau
Intel là hãng chip đầu tiên giới thiệu dòng vi xử lý 4 lõi ra thị trường, kết hợp 2 vi xử lý lõi kép lên một miếng silicon. Còn AMD mất nhiều thời gian hơn để phát triển công nghệ này, nhưng miếng silicon của họ chứa 4 lõi.
2. Ưu thế của vi xử lý 4 lõi Intel
Theo công nghệ 45 nanomet, chip Xeon 4 lõi có tốc độ xử lý nhanh gấp 2 lần dòng Xeon 60 nanomet lõi kép trước đó.
3. Ưu thế của vi xử lý 4 lõi AMD
Chip Opteron 4 lõi nhanh hơn 66% so với Opteron lõi kép trước đó.
4. Hoạt động tốt nhất với máy chủ
Trong doanh nghiệp, máy chủ là nền hoạt động lý tưởng cho vi xử lý này vì chip được thiết kế để tận dụng các phần mềm đa tuyến chạy trên hầu hết trung tâm dữ liệu.
5. Tạo nên một số ưu thế cho desktop
Những hệ thống cao cấp sẽ chạy ứng dụng đồng thời một cách êm ái. Tuy nhiên, nếu không vì mục đích chơi game "hạng nặng" hay những hoạt động phức tạp, người tiêu dùng không cần mua vi xử lý 4 lõi.
6. Không mang lại nhiều ưu thế cho hệ thống di động
Hiện tại, cả Intel và AMD đều chưa cung cấp vi xử lý 4 lõi cho laptop hay thiết bị di động, dù năm sau có thể có. Nhiều chuyên gia phân tích cho biết hầu hết người dùng muốn máy hoạt động nhanh hơn nhưng tiêu tốn ít điện năng hơn.
7. Tốt hơn cho ảo hóa
Do công nghệ ảo hóa đang được dùng rộng rãi hơn, các doanh nghiệp sẽ cần trang bị vi xử lý 4 lõi để chạy nhiều ứng dụng/hệ điều hành đồng thời trên một nền máy chủ chung.
8. Giúp tiết kiệm hệ thống điều hòa
Với nhiều lõi xử lý hơn trên mỗi máy chủ, các chip 4 lõi có thể giúp giảm thiểu số máy tính cần thiết cho trung tâm dữ liệu, do đó, hơi nóng tỏa ra sẽ bớt đi và tiết kiệm khá lớn cho hệ thống làm mát phòng.
9. Xa hơn vi xử lý 4 lõi
Chip đa lõi là mục tiêu của nhiều hãng sản xuất, ví dụ như UltraSPARC 8 lõi của Sun Microsystems. Intel và AMD cũng dự định đưa ra chip 8 lõi vào cuối năm 2008.
10. Bước tiếp theo sau chip 4 lõi
Tới năm 2008, cả Intel và AMD sẽ cung cấp vi xử lý trên công nghệ 45 nanomet. Điều này sẽ tăng khả năng hoạt động cho chip trong khi nhiệt độ không thay đổi.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
1:25 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: KIẾN THỨC MÁY TÍNH
