Các bạn thân mến,
Tor là một trong những công cụ vượt tường lửa thông dụng nhất tại Việt Nam. Bạn có thể dùng Tor để vào Facebook hoặc các trang mạng khác đang bị kiểm duyệt và chặn. Ngoài ra, Tor còn có thể dùng đểu bảo vệ tung tích của bạn khi lướt mạng.
Gói trình duyệt Tor là một giải pháp đặt sẵn để giúp bạn lướt mạng trên máy Windows mà không cần phải thiết kế các trình duyệt web. Và hay hơn nữa, ứng dụng này là loại di động. Cho nên bạn có thể sử dụng nó trên thẻ nhớ USB và không cần cài vào máy vi tính nào cả.
Tải xuống Gói Trình Duyệt Tor
Bạn có thể tải Gói Trình Duyệt Tor tại trang web: torproject.org. Kích cở của tập tin là khoảng 15MB. Bạn cũng có thể tải xuống nhiều phần, mỗi phần chỉ có khoảng 1.4MB. Tải những phần nhỏ sẽ dễ hơn nếu đường truyền Internet của bạn chậm. Nếu như torproject.org bị kiểm duyệt thì đánh chữ “tor mirrors” vào công cụ tìm kiếm như Google để kiếm những điạ chỉ khác để tải xuống Gói Trình Duyệt Tor.
Lưu Ý: Khi bạn tải xuống Gói Trình Duyệt Tor (cả 2 phiên bản), bạn cần xét lại chữ ký số của tập tin, nhất là từ các mirror sites, vì tập tin có thể bị giả. Để biết thêm về cách xét chữ ký số, bạn cần đọc thêm tài liệu tại:
https://wiki.torproject.org/noreply/TheOnionRouter/VerifyingSignatures
Bạn có thể tải xuống phần mềm để xét chữ ký số tại:
http://www.torproject.org/download/download.html.en
February 11, 2011
Vượt tường lửa " Cách Sử Dụng Gói Trình Duyệt Tor"
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
6:23 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN, THỦ THUẬT WINDOWS
January 24, 2009
Lấy IP của người đang chát?
Khi chat thì gửi 1 file, (tắt hết mọi kết nối bên ngoài) rồi vào cmd gõ netstat -n bạn sẽ lấy IP một cách đơn giản, kể cả yahoo có lên đến fien bản bao nhiêu đi nữa thì vẫn có thể lấy được
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
8:22 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
Fake IP

fake IP dùng để ẩn danh khi lướt net và tạo 1 IP giả cho bạn.
1/Nếu bạn dùng Internet Explorer
Tools --> Internet Options... --> Chọn thẻ Connections
Click vào LAN settings...
ở mục: Proxy Server đánh dấu vào ô vuông bên cạnh hàng chữ: Use a proxy server for your LAN
-mục Address: điền 166.90.205.125
-mục Port: điền 8080
-Click OK
Click tiếp OK. Xong
(166.90.205.125:8080 chỉ là ví dụ. Bạn vào trang http://www.proxy4free.com/page1.html để kiếm cho mình 1 proxy thích hợp)
Khi bạn không muốn dùng proxy: bạn gỡ bỏ đánh dấu ở các mục: "Use a proxy server for your LAN" và "Use automatic configuration script"
2/ Nếu bạn dùng FireFox (2.0 trở lên vì SLM ko có bản firefox cũ để thử)
Bật FireFox vào menu Tool>Options
Trong hợp thoại bật lên, nhấn vào mục Advance. Chọn thẻ Network, nhấp nút Setting...
Bạn sẽ thấy hộp thoại Conection setting bật lên. Hãy chọn tùy chọn "Manual Proxy configuration"" -->
o HTTP proxy: điền 166.90.205.125
o Port: điền 8080
Click OK. Xong
(166.90.205.125:8080 chỉ là ví dụ. Bạn vào trang http://www.proxy4free.com/page1.html để kiếm cho mình 1 proxy thích hợp)
Khi bạn không muốn dùng proxy:
Tools --> Options...---> Chọn Advance. Chọn thẻ Network, nhấp nút Setting.
Click vào nút: "Connection Settings..." --> Đánh dấu vào mục: "Direct connection to the internet"
3/ Nếu bạn dùng Opera
Tools --> Preferences ...--> chọn thẻ Advanced -->
-chọn Network
-click vào proxy server, đánh dấu vào mục HTTP, điền 166.90.205.125 vào ô bên cạnh, điền 8080 vào ô Port
-Click OK
-Click OK. Xong.
(166.90.205.125:8080 chỉ là ví dụ. Bạn vào trang http://www.proxy4free.com/page1.html để kiếm cho mình 1 proxy thích hợp)
(Nếu không muốn dùng proxy thì gỡ bỏ đánh dấu ở các mục trên và ở mục: "Use automatic proxy configuration)
Lưu ý:
-Khi bạn chỉnh thông số server proxy xong nhớ reload lại trang hoặc tắt trình duyệt sau đó bật lại thì thay đổi mới có hiệu lực
-Để kiểm tra xem mình đã fake IP thành công hay không bạn vào trang http://whatismyip.com/ và xem số IP của mình có giống với IP mà mình muốn sử dụng hay không. Nếu giống, bạn đã fake IP thành công, nếu không giống bạn thì bạn cần phải kiếm một địa chỉ Proxy khác. Hãy kiên nhẫn và thường thì bạn phải thử vài ba cái địa chỉ Proxy mới fake IP thành công. Good luck!
-Tốc độ truy cập web thông qua proxy thường chậm hơn so với connect trực tiếp.Do đó sau khi hoàn tất công việc thì nhớ gỡ bỏ proxy để connect trực tiếp.
-Bạn ko thể sử dụng được 1 proxy nào lâu dài vì sớm muộn gì nó cũng die. Khi nào nó die bạn vào trang http://www.proxy4free.com/page1.html để kiếm cho mình 1 proxy khác.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
8:14 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
Làm thế nào để xác định một địa chỉ IP

Địa chỉ IP (Internet Protocol) là một địa chỉ duy nhất mà các thiết bị điện tử sử dụng để nhận biết và giao tiếp lẫn nhau trên mạng máy tính. Địa chỉ này được xác định bằng cách sử dụng chuẩn IP (Internet Protocol). Định nghĩa một cách đơn giản hơn thì địa chỉ IP là địa chỉ máy tính sử dụng trên Internet. Do vậy mà địa chỉ IP là duy nhất đối với mỗi thiết bị.
Ngoài máy tính, những thiết bị khác có thể có địa chỉ IP duy nhất bao gồm router, switch, các máy chủ cơ sở hạ tầng, máy in, máy fax Internet và thậm chí là một số máy điện thoại.
Địa chỉ IP đươc gán và quản lý bởi IANA (Internet Assigned Numbers Authority). IANA chỉ định các khối địa chỉ IP tới bất kỳ 4 khu vực đăng ký Internet (ARIN, RIPE NCC, APNIC và LACNIC), những nơi này sau đó sẽ gán các khối địa chỉ IP nhỏ hơn tới các nhà cung cấp dịch vụ Internet và doanh nghiệp.
Một địa chỉ IP thông thường gồm có 32 bit hoặc 4 byte địa chỉ thường được hiển thị bởi 4 chữ số (mỗi số giới hạn từ 0 đến 255) và cách nhau bởi dấu chấm. Ta có một ví dụ về địa chỉ IP như sau: '192.135.67.201'. Phạm vi của các số trong khoảng từ 0 tới 255 thường được hiển thị bởi 8 bit, hay còn gọi là một ‘Octet’.
Tuy nhiên, hạn chế của phiên bản địa chỉ IP này là số lượng địa chỉ IP bị giới hạn đối với 4, 294, 967, 296. Vì thế một phương pháp gán địa chỉ IP mới có tên là CIDR đã thay thế cho phương pháp trên. Phương pháp CIRD cũng được áp dụng vào phiên bản tiếp theo (IPv6) của địa chỉ IP.
Phiên bản mới của địa chỉ IP là 128 bit hoặc 16 byte chiều rộng, phiên bản này sẽ cho phép một khối lượng lớn địa chỉ IP trở nên sẵn có cho các máy tính trên Internet.
Phân loại địa chỉ IP
Có hai loại địa chỉ IP: IP tĩnh và IP động. Khi địa chỉ IP của máy tính là như nhau mỗi lần máy tính kết nối vào mạng thì đó được gọi là địa chỉ IP tĩnh. Tuy nhiên, khi địa chỉ IP của máy tính thay đổi khác nhau mỗi lần máy tính kết nối mạng thì đó là địa chỉ IP động.
Địa chỉ IP máy bạn là gì?
Cho đến bây giờ chắc hẳn bạn vẫn đang thắc mắc "Địa chỉ IP của tôi là gì?" và "Làm thế nào để tôi có thể xác định được địa chỉ IP của tôi".
Không khó để bạn có thể xác định địa chỉ IP. Tuy nhiên các phương pháp sẽ khác nhau qua các tình huống khác nhau. Dưới đây sẽ là một số phương pháp đơn giản để xác định địa chỉ IP của máy tính khi đang kết nối Internet, khi bạn sử dụng máy tính Macintosh hay khi sử dụng máy tính Windows, và thậm chí cả cách nhận diện địa chỉ IP của người gửi thư điện tử.
Khi kết nối Internet
Trên Internet có rất nhiều trang web có thể dò tìm địa chỉ IP khi máy tính được kết nối qua Internet. Tuy nhiên, nếu như bạn đang trên một mạng LAN hay một mạng tại nhà, thì các trang web đó có thể sẽ dò tìm địa chỉ IP của router mạng.
Khi sử dụng máy tính Macintosh
Trên máy Mac, địa chỉ IP được tìm thấy tại bảng điều khiển TCP/IP, khi máy tính là Mac OS X thì địa chỉ IP được tìm thấy tại System Preferences trong mục ‘Internet and Network’ .
Khi sử dụng máy tính Windows
Nếu bạn muốn dò tìm địa chỉ IP của máy tính (trường hợp đang sử dụng Windows) thì quá trình hoàn dò tìm rất đơn giản:
*
Kích vào 'Start' trên thanh tác vụ Windows.
*
Chọn 'Run'.
*
Nhập ‘cmd’ tại hộp nhập text. Lệnh này sẽ chuyển tới trình đơn dấu nhắc lệnh.
*
Tại trình đơn này, nhập ‘ipconfig/all’.
Bạn sẽ tìm thấy địa chỉ IP của máy tính tại trường địa chỉ IP.
Dò tìm địa chỉ IP của thư điện tử nhận được
Nếu bạn muốn dò tìm địa chỉ IP của máy tính đã gửi thư cho bạn thì có thể tìm thấy tại đầu mục (header) thư điện tử. Thông thường, thông tin này sẽ được ẩn đi. Nếu kích vào 'Show Headers' trong khi đọc thư điện tử trên Internet, thì địa chỉ IP của máy tính từ nơi gửi thư sẽ được hiển thị.
Một số giá trị của địa chỉ IP
Địa chỉ IP rất hữu ích cho việc dò tìm và giải quyết các vấn đề về xâm nhập cũng như các mối nguy hiểm từ Internet. Những địa chỉ IP này đồng thời cũng giúp giảm spam thư điện tử hoặc khi bạn nhận được những bức thư với những lời đe dọa hay các loại virut nguy hiểm có thể xâm nhập thông qua thư điện tử.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
8:10 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
January 23, 2009
Chiếm nhiều địa chỉ IP

Chúng ta đều biết là mỗi máy tính có 1 địa chỉ IP cố định, thế mà cũng đôi lúc có trường hợp đặc biệt: bạn có thể có 2 địa chỉ IP và nhiều hơn thế nữa. Chuyện đó hoàn toàn là sự thật!
Số là ở chỗ tôi các máy tính nối mạng LAN với nhau. Vì nhu cầu nối các máy do tự phát nên phương thức nối LAN là nối mạng ngang hàng. Tuy có sử dụng hub và switch để kết nối nhưng không dùng router nên không thể tự động phân phát địa chỉ IP được, do đó nên các địa chỉ IP chúng tôi phải tự đặt và tất nhiên đó là địa chỉ tĩnh. Mọi sự rất bình thường đến khi số lượng sinh viên đông lên, số IP ở dải 192.168.0.xxx dần không đủ, khiến 1 số máy khi mở lên hay gặp thông báo trùng số IP. Bọn tôi dùng giải pháp thay đổi địa chỉ Subnet Mask thành 255.255.0.0 (địa chỉ cũ là 255.255.255.0) nên có thể cho phép nhiều máy tính kết nối LAN hơn với việc khai báo địa chỉ IP dạng 192.168.xxx.xxx.
Tuy nhiên những địa chỉ ban đầu dạng 192.168.0.xxx vẫn được coi là đẹp nhất, nhất là với những ai dùng quen 1 địa chỉ, bây giờ thay đổi thì người khác khó biết đâu là máy mình. Kết quả là 1 số vẫn sử dụng địa chỉ dạng cũ đó. Tất nhiên là lại trùng số IP. Vậy là có chuyện. Chuyện là khi 1 ai đó muốn nhảy sang dải IP khác 192.168.0.xxx mà vẫn muốn có 1 số IP ở dải đó "làm kỉ niệm".
Một hôm tôi scan các máy trong mạng, thấy có 3 máy có địa chỉ IP khác nhau share cùng các thư mục giống nhau, tôi thấy là lạ và nghi là chỉ có 1 máy nhưng hắn "chiếm" tới 3 địa chỉ IP liền. Thế nên tôi thử hỏi 1 anh có máy là 1 trong 3 địa chỉ đó có phải của anh hết không thì sự nghi ngờ tiêu tan. Anh chỉ cho tôi thủ thuật nhỏ để làm cho 1 máy "tham lam IP", nó đơn giản lắm, nhưng chắc ít người dùng
nên nó không phổ biến.
Để làm cho máy tính của bạn chiếm nhiều địa chỉ IP, hãy làm theo các bước sau:
(4 bước đầu là các bước giúp bạn thiết lập địa chỉ IP tĩnh cho máy tính)
1. Vào Control Panel-> Network Connections.
2. Click chuột phải lên biểu tượng kết nối mạng LAN của bạn, chọn Properties.
3. Trong tab General mặc định, chọn mục Internet Protocol (TCP/IP) cuối cùng trong danh sách, sau đó nhấn Properties.
4. Trong cửa sổ hiện ra, hãy chọn Use the following IP address, sau đó điền địa chỉ IP và Subnet Mask tương ứng vào 2 ô kế tiếp.
(Các bước tiếp sẽ giúp bạn chiếm nhiều địa chỉ IP)
5. Đừng tắt cửa sổ đó vội, hãy nhấn vào nút Advanced...
6. Trong cửa sổ hiện ra, bạn đã thấy số IP và Subnet Mask bạn vừa đánh được hiện ra, lúc này bạn nhấn Add để thêm 1 địa chỉ IP nữa.
7. Điền IP address và Subnet Mask vào 2 ô tương ứng rồi nhấn Add. Lúc này bạn đã có 2 địa chỉ IP và trong cửa sổ liệt kê sẽ cho bạn thấy 2 địa chỉ bạn vừa mới nhập vào.
8. Nếu bạn muốn thêm địa chỉ nữa thì nhấn tiếp nút Add và thực hiện lặp lại công việc đó 1 lần nữa. Tới chừng nào bạn "chán" thì thôi.
Thủ thuật này sẽ khiến cho "hình ảnh của bạn" xuất hiện trong mạng LAN không chỉ 1 lần như các máy khác. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể đoán được đó là chính bạn dựa vào các thư mục share như tôi đã đoán ở trên. Còn nếu như bạn không share gì thì gần như bạn đã "phân thân" rồi đấy.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
1:07 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
December 14, 2008
Biến máy tính xách tay Vista thành trạm kết nối Wi-Fi
Với nhiều người dùng máy tính, Vista vẫn còn khá xa vời bởi xung quanh hệ điều hành này hiện có không ít lời ong tiếng ve cũng như giá bán khá cao. Tuy nhiên, nếu chiếc máy tính xách tay mà bạn vừa mua được cài sẵn Vista, chỉ sau vài thiết lập đơn giản, bạn sẽ có những tính năng hữu ích, điển hình như chia sẻ kết nối internet với những người dùng khác.
Gần như mọi máy tính xách tay đời mới luôn được tích hợp card mạng có dây và khả năng kết nối Wi-Fi (chuẩn a/b/g). Do đó, bằng cách kết hợp 2 thành phần này, bạn có thể chia sẻ kết nối internet với nhiều người dùng xung quanh, điều này đặc biệt hữu ích khi bạn đang là người duy nhất có thể "lên mạng".
Bạn hoàn toàn có thể biến máy tính của mình thành một điểm truy cập không dây trong cự ly ngắn
1. Nhấn Start, mở Control Panel, chọn Network and Sharing Center.
2. Ở khung cửa sổ bên trái, chọn Set up a connection or network.
3. Sau đó, ở cửa sổ lựa chọn bên phải, nhấn Set up a wireless ad hoc (computer-to-computer) network, và sau đó nhấn Next.
4. Đặt tên cho mạng vừa tạo ra, tiếp đến chọn một chế độ bảo mật (WEP là lựa chọn phù hợp bởi vì chế độ này cho phép bạn chia sẻ mạng với những ai mà bạn biết) và sau đó nhập vào một khóa bảo vệ.
5. Tiếp đến, bạn đánh dấu vào tùy chọn Save this network, rồi nhấn Next.
6. Nếu thấy hộp thoại Turn on Internet Connection Sharing, bạn nhấn chọn vào đó.
Từ bây giờ, bạn đã có thể chia sẻ kết nối Internet của mình với những người xung quanh trong khoảng cách dưới 30 m.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
11:28 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
July 2, 2008
Kỹ thuật cân bằng tải lưu lượng
Hiện nay, khi nhu cầu truy nhập mạng bùng nổ, các server cung cấp dịch vụ đang trở nên quá tải. Việc lựa chọn một server đơn lẻ có cấu hình cực mạnh để đáp ứng nhu cầu này sẽ kéo theo chi phí đầu tư rất lớn. Giải pháp hiệu quả được đưa ra là sử dụng một nhóm server cùng thực hiện một chức nóng dưới sự điều khiển của một công cụ phân phối tải - Giải pháp cân bằng tải. Có rất nhiều hãng đưa ra giải pháp cân bằng tải như Cisco, Coyote Point, Sun Microsystems... với rất nhiều tính nóng phong phú. Tuy nhiên, về cơ bản, nguyên tắc cân bằng tải vẫn xuất phát từ những quan điểm kỹ thuật khá tương đồng.
Giới thiệu
Hiện nay, khi nhu cầu truy nhập mạng bùng nổ, các server cung cấp dịch vụ đang trở nên quá tải. Việc lựa chọn một server đơn lẻ có cấu hình cực mạnh để đáp ứng nhu cầu này sẽ kéo theo chi phí đầu tư rất lớn. Giải pháp hiệu quả được đưa ra là sử dụng một nhóm server cùng thực hiện một chức nǎng dưới sự điều khiển của một công cụ phân phối tải - Giải pháp cân bằng tải. Có rất nhiều hãng đưa ra giải pháp cân bằng tải như Cisco, Coyote Point, Sun Microsystems... với rất nhiều tính nǎng phong phú. Tuy nhiên, về cơ bản, nguyên tắc cân bằng tải vẫn xuất phát từ những quan điểm kỹ thuật khá tương đồng. Một kỹ thuật cân bằng tải điển hình là RRDNS (Round Robin DNS). Với giải pháp này, nếu một server trong nhóm bị lỗi, RRDNS sẽ vẫn tiếp tục gửi tải cho server đó cho đến khi người quản trị mạng phát hiện ra lỗi và tách server này ra khỏi danh sách địa chỉ DNS. Điều này sẽ gây ra sự đứt quãng dịch vụ. Sau những phát triển, từ các thuật toán cân bằng tải tĩnh như Round Robin, Weighted Round Robin đến các thuật toán cân bằng tải động như Least Connection, Weighted Least Connection, Optimized Weighted Round Robin và Optimized Weighted Least Connection, kỹ thuật cân bằng tải hiện nay nhờ sự kết hợp các thuật toán trên ngày càng trở nên hoàn thiện mặc dù nhược điểm vốn có như tạo điểm lỗi đơn và vấn đề nút cổ chai do sử dụng bộ điều phối tập trung (centralized dispatcher) vẫn còn. Bài báo này giới thiệu một giải pháp mà Microsoft sử dụng cho web server chạy website Microsoft.com, đó là kỹ thuật cân bằng tải mạng (NLB - Network Load Balancing). Ngoài khả nǎng áp dụng với Web server, kỹ thuật này còn có thể áp dụng với các hệ server ứng dụng khác. NLB không chỉ làm nhiệm vụ phân phối tải cho các server mà còn còn cung cấp cơ chế đảm bảo hệ thống server tính luôn khả dụng trước các client. NLB không có yêu cầu đặc biệt gì về phần cứng, bất cứ máy tính nào hợp chuẩn đều có thể được sử dụng làm server. Chi phí triển khai nhờ đó giảm đáng kể. Kiến trúc phần mềm phân tán của NLB cho phép cung cấp hiệu nǎng và tính khả dụng của kỹ thuật này ở mức cao nhất.
NLB hoạt động như thế nào
NLB mở rộng hiệu nǎng của các server ứng dụng, chẳng hạn như Web server, nhờ phân phối các yêu cầu của client cho các server trong nhóm (cluster). Các server (hay còn gọi là host) đều nhận gói IP đến, nhưng gói chỉ được xử lý bởi một server nhất định. Các host trong nhóm sẽ đồng thời đáp ứng các yêu cầu khác nhau của các client, cho dù một client có thể đưa ra nhiều yêu cầu. Ví dụ, một trình duyệt Web cần rất nhiều hình ảnh trên một trang Web được lưu trữ tại nhiều host khác nhau trong một nhóm server. Với kỹ thuật cân bằng tải, quá trình xử lý và thời gian đáp ứng client sẽ nhanh hơn nhiều.
Mỗi host trong nhóm có thể định ra mức tải mà nó sẽ xử lý hoặc tải có thể phân phối một cách đồng đều giữa các host. Nhờ sử dụng việc phân phối tải này, mỗi server sẽ lựa chọn và xử lý một phần tải của host. Tải do các client gửi đến được phân phối sao cho mỗi server nhận được số lượng các yêu cầu theo đúng phần tải đã định của nó. Sự cân bằng tải này có thể điều chỉnh động khi các host tham gia vào hoặc rời khỏi nhóm. Đối với các ứng dụng như Web server, có rất nhiều client và thời gian mà các yêu cầu của client tồn tại tương đối ngắn, khả nǎng của kỹ thuật này nhằm phân phối tải thông qua ánh xạ thống kê sẽ giúp cân bằng một cách hiệu quả các tải và cung cấp khả nǎng đáp ứng nhanh khi nhóm server có thay đổi.
Các server trong nhóm cân bằng tải phát đi một bản tin đặc biệt thông báo trạng thái hoạt động của nó (gọi là heartbeat message) tới các host khác trong nhóm đồng thời nghe bản tin này từ các khác host khác. Nếu một server trong nhóm gặp trục trặc, các host khác sẽ điều chỉnh và tái phân phối lại tải để duy trì liên tục các dịch vụ cho các client. Trong phần lớn các trường hợp, phần mềm client thường tự động kết nối lại và người sử dụng chỉ cảm thấy trễ một vài giây khi nhận được đáp ứng trả lời.
Kiến trúc hệ thống cân bằng tải
Để tối đa hoá thông lượng và độ khả dụng, công nghệ cân bằng tải sử dụng kiến trúc phần mềm phân tán hoàn toàn, trình điều khiển cân bằng tải được cài đặt và chạy song song trên tất cả các host trong nhóm. Trình điều khiển này sắp xếp tất cả các host trong nhóm vào một mạng con để phát hiện đồng thời lưu lượng mạng đến địa chỉ IP chính của nhóm (và các địa chỉ bổ sung của các host ở nhiều vị trí khác nhau). Trên mỗi host, trình điều khiển hoạt động như một bộ lọc giữa trình điều khiển card mạng và chồng giao thức TCP/IP, cho phép một phần lưu lượng mạng đến được nhận bởi host đó. Nhờ đó, các yêu cầu của client sẽ được phân vùng và cân bằng tải giữa các host trong nhóm.
Hệ thống cân bằng tải chạy như một trình điều khiển mạng (về mặt logic) nằm dưới các giao thức lớp ứng dụng như HTTP hay FTP. Hình sau cho thấy việc triển khai hệ thống cân bằng tải như một trình điều khiển trung gian trong chồng giao thức mạng của Windows2000 tại mỗi host trong nhóm.
Kiến trúc này tối đa hoá dung lượng nhờ việc sử dụng mạng quảng bá để phân phối lưu lượng mạng đến tất cả các host trong nhóm và loại bỏ sự cần thiết phải định tuyến các gói đến từng host riêng lẻ. Do thời gian lọc các gói không mong muốn diễn ra nhanh hơn thời gian định tuyến các gói (định tuyến bao gồm các quá trình nhận gói, kiểm tra, đóng gói lại và gửi đi), kiến trúc này cung cấp thông lượng cao hơn các giải pháp dựa trên bộ điều phối. Khi tốc độ của mạng và server tǎng lên, thông lượng cũng tǎng theo tỉ lệ thuận, do đó loại bỏ được bất cứ sự lệ thuộc nào vào việc định tuyến dựa trên các phần cứng đặc biệt. Trên thực tế, bộ cân bằng tải có thể đạt thông lượng 250Mbit/s trong các mạng Gigabit. Một ưu điểm cơ bản khác của kiến trúc phân tán hoàn toàn là độ khả dụng được tǎng cường với (N-1) cách khắc phục lỗi trong một nhóm có N host. Các giải pháp dựa trên bộ điều phối tạo ra một điểm lỗi kế thừa mà chỉ có thể được khắc phục bằng cách sử dụng một bộ điều phối dự phòng và do đó chỉ cung cấp một cách khắc phục lỗi duy nhất.
Kiến trúc cân bằng tải cũng tận dụng được những ưu điểm về kiến trúc các thiết bị chuyển mạch (switch) và/hoặc các bộ tập trung (hub) của mạng con trong việc đồng thời phân phối lưu lượng mạng đến tất cả cac host trong nhóm. Tuy nhiên, phương pháp này làm tǎng "tải trọng" trên các chuyển mạch do chiếm thêm bǎng thông cổng. Đây không phải là vấn đề trong phần lớn các ứng dụng như dịch vụ Web hay streaming media, do tỉ lệ lưu lượng đến chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng lưu lượng mạng. Tuy nhiên, nếu các kết nối mạng phía client đến thiết bị chuyển mạch có tốc độ nhanh hơn nhiều các kết nối phía server, lưu lượng có thể chiếm một tỉ lệ lớn quá mức cho phép của bǎng thông cổng phía server. Vấn đề tương tự sẽ gia tǎng nếu nhiều nhóm kết nối trên cùng một thiết bị chuyển mạch và các biện pháp thiết lập các mạng LAN ảo cho từng nhóm không được thực hiện. Trong quá trình nhận gói, việc triển khai của NLB là sự kết hợp giữa việc phân phối các gói tới tầng TCP/IP và nhận các gói khác qua trình điều khiển card mạng. Việc này giúp tǎng tốc độ xử lý chung và giảm trễ do TCP/IP có thể xử lý gói trong khi trình điều khiển NDIS (Network Driver Interface Specification) nhận gói tiếp theo. Trong quá trình gửi gói, NLB cũng tǎng cường thông lượng, giảm độ trễ và phụ phí (overhead) nhờ tǎng số lượng gói mà TCP/IP có thể gửi trong một kết nối. Để có được những cải thiện về hiệu nǎng này, NLB thiết lập và quản lý một tập hợp các bộ đệm gói và các ký hiệu (descriptor) được sử dụng để phối hợp các hoạt động của TCP/IP và trình điều khiển NDIS.
Phân phối lưu lượng trong nhóm
NLB sử dụng hai lớp broadcast hoặc multicast để phân phối đồng thời lưu lượng mạng đến tất cả các host trong nhóm. Trong chế độ hoạt động mặc định là unicast, NLB sẽ gán địa chỉ trạm làm việc (địa chỉ MAC) cho card mạng để card mạng có thể hoạt động (card này gọi là card nhóm ? cluster adapter), và tất cả các host trong nhóm được gán cùng một địa chỉ MAC. Các gói đến do đó được nhận bởi tất cả các host trong nhóm và chuyển gói tới trình điều khiển cân bằng tải để lọc. Để đảm bảo tính duy nhất, địa chỉ MAC được dẫn xuất từ địa chỉ IP chính của nhóm. Ví dụ, với địa chỉ IP chính của nhóm là 1.2.3.4, địa chỉ MAC unicast được đặt là 02-BF-1-2-3-4. Trình điều khiển cân bằng tải sẽ tự động sửa địa chỉ MAC của card nhóm bằng cách thiết lập một thực thể đǎng ký và tái nạp trình điều khiển card nhóm. Hệ điều hành không cần phải khởi động lại. Nếu các host trong cluster được gắn vào một thiết bị chuyển mạch (swicth) chứ không phải một bộ tập trung (hub), việc sử dụng chung một địa chỉ MAC sẽ gây ra xung đột do các chuyển mạch lớp 2 chỉ có thể hoạt động khi các địa chỉ MAC nguồn trên tất cả các cổng của thiết bị chuyển mạch là duy nhất. Để tránh điều này, NLB sửa địa chỉ MAC nguồn cho các gói đầu ra là duy nhất, địa chỉ MAC của nhóm là 02-BF-1-2-3-4 được chuyển thành 02-h-1-2-3-4, trong đó h là mức ưu tiên của host trong nhóm. Kỹ thuật này ngǎn không cho thiết bị chuyển mạch tìm ra địa chỉ MAC thực sự của nhóm và kết quả là các gói đến nhóm được phân phối tới tất cả các cổng của thiết bị chuyển mạch. Nếu các host trong nhóm được kết nối trực tiếp vào một hub, mặt nạ địa chỉ MAC nguồn của NLB trong chế độ unicast có thể được vô hiệu hoá để tránh gây ra hiện tượng tràn cho các thiết bị chuyển mạch ở đường lên (upstream). Điều này có thể thực hiện bằng cách thiết lập tham số đǎng ký NLB là MaskSourceMAC=0. Việc sử dụng hệ thống chuyển mạch đường lên ba mức cũng có thể hạn chế tràn cho các thiết bị chuyển mạch.
Chế độ unicast của NLB có thể làm vô hiệu hoá quá trình trao đổi thông tin giữa các host trong nhóm có sử dụng card nhóm. Khi các gói của một host được gửi đi với địa chỉ MAC đích giống địa chỉ MAC nguồn, các gói này sẽ bị quay vòng (loop-back) giữa các tầng giao thức mạng bên trong hệ thống phía gửi và không bao giờ ra đến đường truyền. Hạn chế này có thể tránh được bằng cách thêm một card mạng thứ hai cho mỗi host. Trong cấu hình này, NLB sử dụng một card mạng trên mạng con nhận các yêu cầu của client và một card mạng khác thường được đặt tách biệt trên mạng con cục bộ để trao đổi thông tin giữa các host trong nhóm và với các server cơ sở dữ liệu cũng như các file server gốc. NLB chỉ sử dụng card nhóm để truyền các bản tin "heartbeat" và lưu lượng điều khiển từ xa.
Chú ý rằng, trao đổi thông tin giữa các host trong nhóm và các host ngoài nhóm không bao giờ bị ảnh hưởng bởi chế độ unicast của NLB. Lưu lượng mạng đến một địa chỉ IP dành riêng cho host (trong card nhóm) được nhận bởi tất cả các host trong nhóm do chúng sử dụng chung một địa chỉ MAC. Do NLB không bao giờ cân bằng tải lưu lượng đối với các địa chỉ IP dành riêng, NLB sẽ lập tức phân phối lưu lượng này đến TCP/IP trên host đã định. Các host khác trong nhóm coi lưu lượng này là lưu lượng đã được cân bằng tải và sẽ loại bỏ lưu lượng này. Chú ý, nếu lưu lượng mạng đến quá lớn đối với các địa chỉ IP dành riêng có thể ảnh hưởng đến hiệu nǎng khi hệ thống NLB hoạt động trong chế độ unicast (tuỳ theo sự cần thiết đối với TCP/IP trong việc loại bỏ các gói không mong muốn).
NLB cung cấp chế độ thứ hai để phân phối lưu lượng mạng đến các host trong nhóm, chế độ multicast. Chế độ này gán địa chỉ multicast 2 lớp cho card nhóm thay vì thay đổi địa chỉ trạm làm việc của card. Ví dụ, địa chỉ MAC multicast sẽ được gán là 03-BF-1-2-3-4 tương ứng với địa chỉ IP chính là 1.2.3.4. Do mỗi host trong nhóm có một địa chỉ trạm làm việc duy nhất, chế độ này không cần một bộ card mạng thứ hai để trao đổi thông tin giữa các host trong nhóm và nó cũng không có bất cứ ảnh hưởng nào đến hiệu nǎng của toàn hệ thống do việc sử dụng các địa chỉ IP dành riêng.
Chế độ unicast của NLB gây ra tràn trên switch do sự phân phối đồng thời lưu lượng mạng trên tất cả các cổng. Tuy nhiên, chế độ multicast của NLB đưa ra cơ hội hạn chế tràn switch để người quản trị hệ thống có thể cấu hình một mạng LAN ảo trên switch cho các cổng tương ứng với các host. Có thể làm được điều này bằng cách lập trình cho switch hoặc sử dụng giao thức IGMP hoặc giao thức GARP, GMRP.
NLB cần triển khai chức nǎng ARP để đảm bảo rằng địa chỉ IP chính của nhóm và các địa chỉ IP ảo khác có thể phân giải sang địa chỉ MAC multicast của nhóm. (Địa chỉ IP dành riêng sẽ tiếp tục phân giải sang địa chỉ trạm làm việc của card nhóm).
Thuật toán cân bằng tải
NLB sử dụng thuật toán lọc phân tán hoàn toàn để ánh xạ các client đến các host trong nhóm. Thuật toán này cho phép các host trong nhóm đưa ra các quyết định cân bằng tải một cách độc lập và nhanh chóng cho từng gói đến. Nó được tối ưu hoá để cung cấp khả nǎng cân bằng tải một cách thống kê đối với một số lượng lớn các yêu cầu nhỏ do vô số client tạo ra, điển hình là đối với các Web server. Nếu số client và/hoặc các kết nối client tạo ra các tải quá chênh lệch nhau trên server, thuật toán cân bàng tải sẽ ít hiệu quả. Tuy nhiên, tính đơn giản và tốc độ của thuật toán cho phép cung cấp hiệu nǎng rất cao bao gồm cả thông lượng cao và thời gian đáp ứng ngắn trong một dải rộng các ứng dụng client/server thông dụng.
NLB xử lý các yêu cầu của client bằng cách dẫn đường cho một tỉ lệ phần trǎm đã chọn những yêu cầu mới cho từng host trong nhóm. Thuật toán không đáp ứng những thay đổi về tải trên mỗi host (chẳng hạn như tải CPU hay vấn đề sử dụng bộ nhớ). Tuy nhiên, quá trình ánh xạ sẽ được thay đổi khi quan hệ thành viên trong nhóm thay đổi và tỉ lệ phần trǎm tải phân bố sẽ được tái cân bằng.
Khi xem xét một gói đến, tất cả các host thực hiện đồng thời việc ánh xạ thống kê để xác định nhanh chóng host nào sẽ xử lý gói đó. Quá trình ánh xạ sử dụng một hàm ngẫu nhiên để tính mức ưu tiên của host dựa trên địa chỉ IP và cổng đến của client cùng các thông tin trạng thái khác để tối ưu hoá việc cân bằng tải. Host tương ứng sẽ chuyển gói đó từ các tầng dưới lên tầng TCP/IP còn các host khác sẽ loại bỏ gói này. Quá trình ánh xạ không thay đổi trừ phi quan hệ giữa các host trong nhóm thay đổi, để đảm bảo rằng địa chỉ IP và cổng đến của client cho trước sẽ luôn được ánh xạ đến cùng một host trong nhóm. Tuy nhiên, host cụ thể trong nhóm mà địa chỉ IP và cổng đến của client ánh xạ tới không thể được xác định trước do hàm ngẫu nhiên có tính đến quan hệ thành viên trong nhóm hiện tại và quá khứ để tối thiểu hoá khả nǎng ánh xạ lại.
Nhìn chung, chất lượng cân bằng tải được xác định một cách thống kê bởi số lượng client tạo ra yêu cầu. Như kết cấu tǎng giảm về số lượng client theo thống kê, sự đều đặn về chất lượng của thuật toán cân bằng tải sẽ thay đổi nhẹ. Để hoạt động cân bằng tải có độ chính xác cao trên mỗi host trong nhóm, một phần tài nguyên hệ thống sẽ được sử dụng để đo và phản ứng trước những thay đổi của tải. Sự trả giá về hiệu nǎng này phải được cân nhắc so với lợi ích của việc tối đa hoá khả nǎng sử dụng các tài nguyên trong nhóm (về cơ bản là CPU và bộ nhớ). Trong bất cứ trường hợp nào, việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên server phải được duy trì để có thể phục vụ cho các tải client khác trong trường hợp xảy ra lỗi.
Khi một host mới tham gia vào nhóm, nó sẽ kích hoạt quá trình hội tụ và một quan hệ thành viên mới trong nhóm sẽ được tính toán. Khi quá trình hội tụ hoàn thành, một phần tối thiểu client sẽ được ánh xạ tới host mới. NLB dò các kết nối TCP trên mỗi host và sau khi kết nối TCP hiện tại của chúng hoàn thành, kết nối tiếp theo từ các client bị ảnh hưởng sẽ được xử lý bởi host mới. Do đó, các host nên được bổ sung vào nhóm tại những thời điểm tải tǎng quá mạnh nhằm tối thiểu hoá hiện tượng ngắt quãng các phiên. Để tránh vấn đề này, trạng thái phiên phải được quản lý bởi ứng dụng server sao cho nó có thể được tái cấu trúc hay được trả lại từ bất kỳ một host nào trong nhóm. Ví dụ, trạng thái phiên có thể được đẩy đến server cơ sở dữ liệu và lưu trong các cookies của client.
Quá trình hội tụ
Các host trong nhóm trao đổi định kỳ các bản tin "heartbeat" multicast hoặc broadcast với nhau. Điều này cho phép các host có thể giám sát trạng thái của nhóm. Khi trạng thái của nhóm thay đổi (chẳng hạn như khi có host gặp trục trặc, rời khỏi hoặc tham gia vào nhóm), NLB kích hoạt một chu trình gọi là hội tụ trong đó các host trao đổi bản tin "heartbeat" để định ra một trạng thái mới, bền vững cho nhóm. Khi tất cả các đạt được sự "nhất trí" trạng thái mới của chúng sẽ được thiết lập và những thay đổi này sẽ được lưu vào nhật ký sự kiện.
Trong quá trình hội tụ, các host tiếp tục xử lý lưu lượng mạng đến như mọi khi ngoại trừ lưu lượng đến host bị lỗi không nhận được dịch vụ. Quá trình hội tụ kết thúc khi tất cả các host trong nhóm có được một quan hệ thành viên ổn định trong vòng một vài chu kỳ heartbeat.
Khi hoàn thành quá trình hội tụ, lưu lượng đến host bị lỗi sẽ được tái phân phối cho các host còn lại. Nếu một host được thêm vào nhóm, quá trình hội tụ cho phép host này nhận được phần tải của nó trong lưu lượng đã được cân bằng. Việc mở rộng nhóm không ảnh hưởng đến các hoạt động của nhóm và theo một cách hoàn toàn trong suốt đối với tất cả các Internet client cũng như trước các chương trình phần mềm server. Tuy nhiên, nó có thể ảnh hưởng đến các phiên client vì các client có thể phải tái ánh xạ tới các host khác trong nhóm.
Trong chế độ unicast, mỗi host sẽ phát quảng bá (broadcast) bản tin "heartbeat" theo chu kỳ. Còn trong chế độ multicast, nó sẽ phát các bản tin này ở chế độ multicast. Mỗi bản tin "heartbeat" chiếm một khung Ethernet và được gắn thêm địa chỉ IP chính của nhóm nhằm cho phép nhiều nhóm có thể cùng tồn tại trên cùng một mạng con. Bản tin "heartbeat" của NLB của Microsoft được gán một giá trị 0x886F. Chu kỳ gửi các bản tin này mặc định là 01 giây. Giá trị này có thể thay đổi. Trong quá trình hội tụ, chu kỳ này được giảm xuống chỉ còn một nửa để đẩy nhanh việc hoàn tất quá trình này. Thậm chí, đối với các cluster lớn, bǎng thông cần thiết để truyền các bản tin "heartbeat" rất thấp (24kBytes/s cho một cluster 16 đường). Để có thể khởi tạo quá trình hội tụ, theo mặc định cần 05 bản tin heartbeat không được nhận. Giá trị này có thể thay đổi.
Điều khiển từ xa
Cơ chế điều khiển từ xa của NLB sử dụng giao thức UDP và được gán cổng dịch vụ #2504. Các gói dữ liệu điều khiển từ xa được gửi tới địa chỉ IP chính của nhóm. Do trình điều khiển trên mỗi host trong nhóm xử lý các gói này, chúng cần được định tuyến tới mạng con của nhóm (thay vì tới một mạng con gốc mà nhóm đó gắn vào). Khi các lệnh điều khiển từ xa được đưa ra trong nhóm, chúng sẽ được phát quảng bá trên mạng con cục bộ. Điều này đảm bảo tất cả các host trong nhóm đều có thể nhận được chúng ngay cả khi nhóm chạy trong chế độ unicast.
Hiệu nǎng cân bằng tải
Vai trò của NLB tác động đến hiệu nǎng của hệ thống có thể được đánh giá dựa trên bốn tiêu chí chính sau:
- CPU overhead trên các host của nhóm - Phần trǎm CPU cần thiết để phân tích và lọc các gói của mạng (càng thấp càng tốt).
Tất cả các giải pháp cân bằng tải đều cần sử dụng một phần tài nguyên của hệ thống để xem xét gói đến và đưa ra quyết định cân bằng tải và do đó ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu nǎng của mạng. Giải pháp cân bằng tải dựa trên bộ điều phối cần kiểm tra, hiệu chỉnh và truyền lại gói tới các host trong nhóm (thường phải sửa đổi lại địa chỉ IP để tái định tuyến gói từ địa chỉ IP ảo tới địa chỉ IP của từng host cụ thể). Đối với NLB, nó phân phối đồng thời các gói đến tới tất cả các host trong nhóm và áp dụng một thuật toán lọc để loại bỏ các gói không mong muốn... Quá trình lọc gây ảnh hưởng ít hơn so với quá trình tái định tuyến và kết quả là thời gian đáp ứng nhanh hơn với thông lượng toàn hệ thống cao hơn.
- Thông lượng và thời gian đáp ứng yêu cầu
NLB nâng cao hiệu nǎng hệ thống bằng cách tǎng thông lượng và tối thiểu hoá thời gian đáp ứng tới các yêu cầu của client. Khi nǎng lực của các host trong nhóm được khai thác tối đa, nó sẽ không thể cung cấp thêm thông lượng và thời gian đáp ứng tǎng đột biến tuỳ theo độ trễ hàng đợi các yêu cầu của client. Bổ sung thêm host sẽ cho phép tǎng thông lượng và giảm thời gian đáp ứng. Nếu nhu cầu của khách hàng tiếp tục tǎng, các host sẽ được thêm vào cho đến khi mạng con bão hoà. Và nếu tải tiếp tục tǎng, cần sử dụng nhiều nhóm NLB và việc phân phối lưu lượng giữa các host được thực hiện bằng kỹ thuật Round Robin DNS.
Trên thực tế, phương pháp này được sử dụng cho Web site của Microsoft www.microsoft.com, hiện thường xuyên có 5 nhóm NLB, mỗi nhóm có 6 host và các host chạy ở mức 60% nǎng lực tối đa.
- Bǎng thông sử dụng của Switch (Switch occupancy): Tỉ lệ bǎng thông của switch được sử dụng bởi quá trình làm tràn các yêu cầu của client.
Kiến trúc lọc gói của NLB dựa trên mạng con broadcast để phân phối các yêu cầu của client tới tất cả các host cùng lúc. Trong các nhóm nhỏ, có thể sử dụng hub để kết nối các host. Với các nhóm lớn hơn, switch sẽ là sự lựa chọn. Và như mặc định, NLB sẽ tạo ra hiện tượng "tràn" switch để có thể phân phối các yêu cầu của client tới tất cả các host cùng lúc. Cần chắc chắn rằng hiện tượng "tràn" switch không được vượt quá nǎng lực của switch, đặc biệt khi switch được chia sẻ giữa nhóm và các máy tính ngoài nhóm. Bình thường, bǎng thông sử dụng cho lưu lượng yêu cầu của client chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng lượng bǎng thông cần thiết cho quá trình truyền thông giữa server và client. Tuy nhiên quá trình "tràn" switch sẽ trở thành vấn đề trong những ứng dụng có tỉ lệ phần trǎm đáng kể lưu lượng mạng được dẫn tới nhóm (chẳng hạn như quá trình upload file trong các ứng dụng FTP) hay khi nhiều nhóm sử dụng chung một switch. Trong những trường hợp này, chạy NLB trong chế độ multicast và thiết lập mạng LAN ảo để hạn chế tràn switch là biện pháp khắc phục rất hiệu quả khiếm khuyết này.
Ngoài ra, tính khả mở của NLB quyết định khả nǎng cải thiện hiệu nǎng của hệ thống khi các host được thêm vào nhóm.
Kết luận
Server đang là nền tảng phân phối các ứng dụng quan trọng, thường xuyên và rộng khắp như Web, Streaming media, VPN. Như một phần tích hợp của Windows2000 Advanced Server và Datacenter Server, NLB cung cấp một giải pháp lý tưởng, kinh tế để tǎng cường tính khả mở và khả dụng cho các ứng dụng trên cả môi trường Internet và intranet. Tuy nhiên, ngoài những ứng dụng tích hợp trong Windows2000, NLB còn có thể tích hợp trong các hệ điều hành mạng và các ứng dụng chạy trên server khác một cách hiệu quả.
Quốc Phùng
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
12:10 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
April 13, 2008
Tạo máy chủ lưu trữ Web Phần 2
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:49 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
Tạo máy chủ lưu trữ Web Phần 1
Hiện nay, Internet đã và đang trở thành xu thế thời đại trong mọi tầng lớp. Cũng từ đó, nhu cầu tự đưa thông tin lên Internet của doanh nghiệp, tổ chức hay thậm chí cá nhân để quảng cáo, giới thiệu, phổ biến kiến thức ngày một lớn hơn. Không giống như các Website tĩnh của 2 năm trước, Website bây giờ đều đòi hỏi truy cập cơ sở dữ liệu lớn, sử dụng công nghệ cao... ít có nhà cung cấp hosting nào có thể đáp ứng được, mà nếu có đi chăng nữa thì một là không đầy đủ tính năng và hai là giá thành thuê cao, vượt khỏi tầm với của những tổ chức nhỏ với mong muốn phục vụ cộng đồng.
Yêu cầu hệ thống Web Server :
1 : Kết nối mạng Internet ( ADSL or Dialup )
2 : Config router
3 : Những công cụ cần thiết ( Apache SQL , PHP )
I : Kiểm Tra Và Congfig Router
muốn làm 1 websever thì điều trước tiên cần làm là mình phải kiểm tra cái router của mình nó thuộc hiệu nào sau đó Forwarding Port , sau đây Nghèo sẻ nêu ra 1 số loại router và cách Forwarding Portđể cho mấy ban tham khảo thêm
trước khi Port forwarding port , ta cũng nên tìm hiểu Port và forwarding
A : Port :
Các ứng dụng chạy trên giao thức TCP/IP mở các kết nối tới các máy tính khác sử dụng các port. Port cho phép nhiều ứng dụng tồn tại trên máy tính đơn - tất cả giao tiếp với nhau qua giao thức TCP/IP. Các port là một tập hợp các con số , đứng sau địa chỉ IP. Các ứng dụng thường ẩn các port này để giảm tính phức tạp của giao thức TCP/IP. Ví dụ: dịch vụ HTTP tồn tại trên port mặc định là port 80. Để tìm kiếm website, ta gõ vào browser http://www.homenethelp.com:80. Port 80 là port mặc định cho giao thức HTTP vì thế có thể không cần thiết phải gõ vào. Có tất cả 65535 port sẵn có.
B : Port forwarding
Các router hoặc các ứng dụng NAT khác (chẳng hạn như ICS) tạo ra firewall giữa mạng trong của bạn và mạng internet. Một firewall sẽ giữ lại lưu lượng không mong muốn từ mạng internet vào mạng LAN của bạn. Một đường hầm (tunnel) có thể được tạo ra xuyên qua firewall của bạn vì thế các máy tính trong mạng Internet có thể giao tiếp với một trong những máy tính trong mạng LAN của bạn thông qua một port đơn. Điều này rất thuận tiện cho việc chạy Web server, game server, ftp server, thậm chí cả video conferencing. Việc tạo ra tunnel này được gọi là Port Forwarding. Một số máy tính của bạn sẽ chạy web server (port 80) trong khi các máy tính khác có thể chạy ftp server (port 23) trên cùng một địa chỉ IP.
Port forwarding có thể khó cấu hình nhưng nó cung cấp một phương pháp an toàn để chạy máy chủ trong firewall. Tóm lại port forwarding cho phép bạn chạy nhiều loại máy chủ trên các máy tính khác nhau trong mạng LAN.
II : User và pass mặc định Các loại Router
Sở dĩ ở đây đưa ra các loại router và pass mặc định của nó , là vì các bạn sẻ gặp khó khăn trong vấn để user và pass của router
1 : Speed Touch
Bạn mở trình duyệt IE lên và gỏ vào địa chỉ IP của router này là : http://10.0.0.138 ( loại router này thì không cần user và pass , nghèo cũng đang sử dụng loại này )
sau khi kết nối vào router này , bạn hảy nhìn góc bên trái của màn hình có chữ Advanced Click vào chữ này , bạn sẻ thấy hiện ra 1 khung nữa, Click tiếp vào NAPT bây giờ thì Click vào New chọn giao thức cho port mà bạn muốn chuyển tiếp sử dụng thanh Protocol ( theo nghèo thì chọn TCP ) trong hộp thoại Inside Port gỏ vào port mà bạn cần chuyển đến
Trong hộp thoại Insite IPbạn gỏ vào cái địa chỉ IP mà cái máy bạn muốn làm websever ( muốn kiểm tra địa chỉ IP của máy mình các bạn vào star==>run===>cmd gỏ lenh ipconfig
dòng :
IP Address : Là địa chỉ IP của bạn
Default Gateway : Là địa chỉ ip của Router
còn trong hộp thoại outside IP thì bạn nên để mặc đinh cho nó là : 0.0.0.0
Click vào nút Apply ở ngay bên dưới , và bây giờ quan sát thấy cấu hình vừa được tạo ra trong bảng phía trên
2 : SmartAT MX 800
mở trình duyệt IE lên Gõ địa chỉ IP của router này vào http://192.168.1.1 cái router này nó yêu cầu nhập user và pass nè
User : admin
Pass : admin
( đây là pass mặc định của loại user này )
sau khi loginv ào router này bạn sẻ thấy nó lung tung , nhưng không sao cả , nhìn vào màn hình bên tay trái click vào Other Settings 1 khung mới sẻ xuất hiện click chuột vào link NAT Click chuột tiếp vào nút Add để bổ sung rule mới Trong mục rule type bạn chọn Redirect trong hộp thoại Protocol bạn nên chọn là TCP trong mục Local IP gõ vào địa chỉ IP để chuyển tiếp port tới. Đây sẽ là địa chỉ IP của máy tính có phần mềm yêu cầu portforwarding nói nôm na thế này cho dể hiểu là IP của máy bạn mún cài websever đó mà
Trong hộp thoại Global Address From và Global Address To nên gõ vào các số 0. Trong hộp thoại Destination Port From và Destination Port To chọn chọn Any other port Nếu bạn đang chuyển tiếp tới một port đơn, đánh số port đấy vào Destination Port From và Destination Port To. Nếu bạn chuyển tiếp một vùng port, đánh số port nhỏ nhất của vùng vào trường Destination Port From. Sau đó đánh số port lớn nhất của vùng vào Destination Port To. Click vào Submit để kết thúc quá trình cấu hình này.
Trong menu bên trái màn hình click vào link Advanced Function. Trong này sẽ có các menu con, click vào link IP Filter
3. ADE-3000 Router
Mở trình duyệt IE lên gỏ vào địa chỉ IP http://10.0.0.2 , nó sẻ yêu cầu bạn nhập user và pass , mặc định user và pass của router này là :
user : admin
pass : conexant
đăng nhập vào router , các bạn nhìn bên trái của màn hình sẻ thấy chử Virtual Server , click vào nó trong ô Public Port là port mà bạn cần forward ô Private Port cũng như vậy ( có nghĩa là 2 ô này bạn điền port giống nhau ) ô Port Type lựa chọn loại giao thức sử dụng ( ở đây nghèo chọn TCP )
trong ô Host IP Address gỏ vào cái địa chỉ IP máy tính của bạn
sau đó ần vào Add This Setting hoặc là sumit gì gì đó
Edd port xong rồi thì click vào Save settings để hoàn tất quá trình
4. ZOOM X4
Mở trình duyệt IE lên gỏ vào địa chỉ IP http://10.0.0.2 , user và pass mặc định của loại router này là :
user : admin
pass : zoomadls
login vào router , Click vào nút Advanced Setup Click tiếp vào NAT trong hộp NAT Options, chọn NAT Rule Entry Click chuột vào nút Add trong hộp Rule Flavor chọn RDR Điền số thứ tự vào Rule ID , Trong ô IF Name chọn All Tại ô Protocol chọn Any
Gõ địa chỉ IP vào cả hai ô Local Address From và Local Address To ( đây là địa chỉ IP của máy tính bạn muốn làm websever )
Điền các số 0 0 0 0 vào cả hai ô Global Address From và Global Address To điền port mà bạn cần forwar vào ô Destination Port From Destination Port To và Local Port
sau đó thì livk vào Save changes đề kết thúc
để ghi lại thay đổi của router này bạn Click vào Advanced Setup click tiếp vào IP Filter
trong ô Security Level chọn NONE
Trong ô Private Default Action, Public Default Action và DMZ Default Action chọn Accept
sau đó click vào sumit để kết thúc
5. ZOOM X5
Mở trình duyệt IE lên gỏ vào trình duyệt http://10.0.0.3 nó sẻ yêu cầu nhập user và pass
user : admin
pass : zoomadsl
login vào router , click vào Advanced Setup click tiếp vào Virtual Server Trong ô ID gõ vào số hiệu ID chưa sử dụng , trong ô Public Port gỏ vào port mà bạn cần FW ô private port cũng như vậy , nói chung là 2 ô này gỏ port cần FW giống nhau , ô Port Type chọn giao thức TCP ô Host IP Address gỏ vào địa chỉ ip máy của bạn
Clicl vào Add This Settings để hoàn tất và xem cấu hình bạn vua72 Fw , sau đó Click vào Write Settings to Flash and Reboot để lưu lại cáu hình bạn vừa làm và khởi động lại router
6. The ZyXel
Mở trình duyệt IE lên gỏ vào http://192.168.1.1 nó yêu cầu nhập user và pass
user : admin
pass : 1234
login vào router Click chuột vào NAT Click chuột vào tuỳ chọn Edit Detail kề bên cạnh SUA Only
Gõ vào hộp thoại Start Port No số hiệu port nhỏ nhất và hộp thoại End Port No số hiệu port lớn nhất mà bạn muốn chuyển tiếp đi , hộp thoại IP Address điền vào địa chỉ IP máy tính của bạn cần làm websever , Click vào Save để ghi lại cấu hình vừa thiết lập. Sau đó bạn sẽ quay trở lại menu NAT Settings. Quay về đầu và click chuột vào nút Apply để kết thúc
7. SpeedStream 5100
Mở trình duyệt IE gỏ vào http://192.168.254.254 nhập user và pass
user : username
pass : password
login vào router , khi login xong , tren menu chính click vào nút Login trong ô user name chọn Admin ô password , gỏ password , click vào nút ok để quay trở lại menu chính , Click vào nút setup sau đó click tiếp vào nút Portforwarding.
Kiểm tra xem tại hộp thoại Select service by name các dịch vụ mà bạn muốn chuyển tiếp đã được liệt kê hay chưa. Lựa chọn dịch vụ mà bạn muốn chuyển tiếp, sau đó click chuột vào nút Redirect selected protocol/service to ip address. Trong hộp thoại này gõ vào địa chỉ IP mà bạn muốn chuyển tiếp (forward) tới. Click vào nút Apply để ghi lại cấu hình.
Trong trường hợp bạn không tìm thấy dịch vụ mà mình muốn chuyển tiếp trong hộp thoại Select service by name thì lựa chọn giao thức, sử dụng thanh cuộn Select protocol. Sau đó gõ vào hộp thoại TCP/UDP port(s) vùng port mà bạn muốn chuyển tiếp. Số hiệu port nhỏ nhất điền vào ô bên trái, số hiệu port lớn nhất điền vào ô bên phải. Click chuột vào nút Redirect selected protocol/service to ip address. Gõ vào địa chỉ IP mà bạn muốn chuyển tiếp dịch vụ này tới. Đây sẽ là địa chỉ IP của máy tính có phần mềm yêu cầu portforwarding. Click vào nút Apply để ghi lại cấu hình.
Vậy là xong bước kiểm tra và config router , cũng coi như là xong 1 nữa rồi
Bài sau sẽ tìm hiểu về apache mysql và php
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:47 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
Hướng dẫn cài đặt ISA Server
Dưới đây là cách cài ISA Server, bạn nào muốn dùng thì xem, sau đó cài y chang là ok. Chạy được voice chat, và cả webcam nữa đó, tuyệt lắm.
"""B1: Cai ket noi: Phan nen server se tu dong ket noi neu co' yeu cau tu ma'y con, hoac dang ket noi ma` bi out mang no cu~ng tu ket noi lai.
- Vao nhanh Policy Elements ---> Dial-up Entries ----> nhan chuot vao bieu tuong Create a Dial-Up Entry: de tao ket noi.
B2: Tao yeu cau tu ma'y client:
- Nhan nut phai chuot vao nhanh Network Configuration ---> chon Properties ----> danh dau chon muc USE dial-up entry
- Bung nhanh Network Configuration ----> nhan phai chuot vao Routing --> cung chon nhu tren.
B3: Tao Group cho vu`ng dia chi ca'c ma'y client:
- Bung nhanh Policy Elements --> nhan chuot vao Client Address Sets ---> nhan chuot vao bieu tuong Create Client Set de tao vung IP cho cac ma'y con ( vi du: 192.168.10.1 - 192.168.10.254 co ten la` HT)
B4: Tao Voice chat va` Webcam cho Yahoo Messenger
- Cung trong nhanh Policy Elements nhan chuot vao Protocol Defintions ---> Tao moi ben phai ( nhan chuot vao Create a Protocol) lan luot voi cac port nhu sau: 5000, 5050,5100,5001
B5: Bung nhanh Access Policy
- Nhan chuot vao Site and Content Rules -----> Tao moi ben phai ----> lu'c na`y phai chon tai muc Apply to phai chon ten Group cua vung dia chi da tao cho cac ma'y clien (vi du HT)
- Tuong Tu lam cho Protocol Rules
The la` xong phan config ISA Server. Doi voi ma'y client nhu chay Internet nhu su dung Proxy (port la` 8080)
Neu ban config nhu tren thi may con moi vao mang duoc thoi, con may chu thi chua dau, muon may chu vao mang thi lam tiep nua ne.
Neu cau hinh theo dung nhung buoc tren thi may con co the su dung day du cac dich vu internet, nhung may chu thi chua, neu muon, ban phai lam them cac buoc sau, phai tao IP Packet Filters. Neu muon su dung web thi tao port 80, AOL 5910, Ftp chon port 21, chat mirc chon port 1080 ..... Minh se tao mau 1 IP Packet Filters cho may chu su dung de truy cap web.
Chon Server and Arrays --> click Server --> Access Olicy --> chuot phai IP Packet Filters --> New --> Filter.
Sau do se hien len cua so, ban dat ten cua IP Packet Filter (vi du : tao port 5910 thi dat ten AOL...) --> Chon All Packet Tranmission --> Custom --> TCP trong muc IP Protocol --> Both trong Direction, chon Dynamic trong local Port, chon Remote Port trong muc Fix port va go 80 trong port number. Sau do chon Default IP Addresses for each external interface on the ISA Server computer --> All Remote computer -->Finish
Cac muc khac, ban cu lam tuong tu nhu tren, chi can doi ten va sua lai port number.
Luu y : Neu ban nao ko muon may con tu quay so thi bo phan tao use dial up entry o phan dau.
"""
Giờ thì đã xong, các chủ dịch vụ Net cứ việc tự làm, mắc mớ gì nhờ những tên vớ vẫn đến cài, rồi đòi hơn 1tr --> vô lý. He he
Còn nếu vẫn làm ko được, nếu ở gần mình, mình sẽ cài dùm cho, giá cực rẻ. Bảo hành cho máy chủ -->no virus.
Nhưng mà, mình khuyến khích các bạn nên tự làm, vì sẽ học hỏi được nhiều điều lắm. Đã có rất nhiều người cài được rồi, các bạn đừng lo mình dấu giếm điều gì, hãy yên tâm đi.
Mình còn nhiều bài hay lắm, hôm nào rảnh, post lên cho mấy bạn xem.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:44 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
April 11, 2008
Thiết lập và định cấu hình cho một mạng LAN (Local Area Network)
I Thiết lập mạng:
Lắp card mạng: ban đầu bạn phải lắp card mạng vào máy tính bằng cách: tắt máy tính, tháo vỏ của máy tính, sau đó bạn tìm khe (slot) trống để cắm card mạng vào. Vặn ốc lại. Sau đó đóng vỏ máy lại.
Cài driver cho card mạng: Sau khi bạn đã lắp card mạng vào trong máy, khi khởi động máy tính lên, nó sẽ tự nhận biết có thiết bị mới và yêu cầu bạn cung cấp driver, lúc đó bạn chỉ việc đưa đĩa driver vào và chỉ đúng đường dẫn nơi lưu chứa driver (bạn có thể làm theo tờ hướng dẫn cài đặt kèm theo khi bạn mua card mạng) . Sau khi cài đặt hoàn tất bạn có thể tiến hành thiết lập nối dây cáp mạng.
Nối kết cáp mạng: Trong mô hình này bạn dùng cáp xoắn để nối kết. Yêu cầu trước tiên là bạn phải đo khoảng cách từ nút (từ máy tính) muốn kết nối vào mạng tới thiết bị trung tâm (có thể Hub hay Switch), Sau đó bạn cắt một đoạn cáp xoắn theo kích thước mới đo. rồi bạn bấm hai đầu cáp với chuẩn RJ_45. Khi đã hoàn tất bạn chỉ việc cắm một đầu cáp mạng này vào card mạng, và đầu kia vào một port của thiết bị trung tâm (Hub hay Switch). Sau khi nối kết cáp mạng nếu bạn thấy đèn ngay port (Hub hay Switch) mới cắm sáng lên tức là về liên kết vật lý giữa thiết bị trung tâm và nút là tốt. Nếu không thì bạn phải kiểm tra lại cáp mạng đã bấm tốt chưa, hay card mạng đã cài tốt chưa.
II Ðịnh cấu hình mạng:
Sau khi đã thiết lập mạng, hay nói cách khác là đã thiết lập nối kết về phần cứng giữa thiết bị trung tâm và nút thì các nút vẫn chưa thể thông tin với nhau được. Ðể giữa các nút có thể thông tin với nhau được thì yêu cầu bạn phải thiết lập các nút (các máy tính) trong LAN theo một chuẩn nhất định. Chuẩn là một giao thức (Protocol) nhằm để trao đổi thông tin giữa hai hệ thống máy tính, hay hai thiết bị máy tính. giao thức (Protocol) còn được gọi là nghi thức hay định ước của mạng máy tính. Trong một mạng ngang hàng (Peer to Peer) các máy tính sử dụng hệ điều hành của Microsoft thông thường sử dụng giao thức TCP/IP (Transmission control protocol/ internet protocol).
Cài đặt TCP/IP:
Ðể cài đặt TCP/IP cho từng máy (đối với Win 9x) bạn bạn tiến hành: Vào My computer --> Control Panel --> Network --> nếu tại đây bạn đã thấy có giao thức TCP/IP rồi thì bạn khỏi cần add thêm nếu chưa có thì bạn hãy click chọn vào nút ADD --> vào cửa sồ Add Component --> sau đó bạn chọn giống như hình -- > chọn OK.
Hình 1
Gán IP cho mạng:
Khi định cấu hình và gán IP cho mạng có hai kiểu chính:
Gán IP theo dạng động (Dynamic): Thông thường sau khi bạn đã nối kết vật lý thành công, và gán TCP/IP trên mỗi nút (máy tính) thì các máy đã có thể liên lạc được với nhau, bạn không cần phải quan tâm gán IP nữa.
Gán IP theo dạng tĩnh (Static): Nếu bạn có nhu cầu là thiết lập mạng để chia sẻ tài nguyên trên mạng như, máy in, chia sẻ file, cài đặt mail offline, hay bạn sẽ cài share internet trên một máy bất kỳ, sau đó định cấu hình cho các máy khác đều kết nối ra được internet thì bạn nên thiết lập gán IP theo dạng tĩnh. Ðể thực hiện bạn vào My computer --> Control Panel --> Network --> nếu tại đây bạn đã thấy có giao thức TCP/IP rồi thì bạn khỏi cần add thêm nếu chưa có thì bạn hãy add thêm vào ( xem hướng dẫn phần trên) --> chọn TCP/IP sau đó chọn Properties.. --> bạn gán IP theo như hình sau đó chọn OK.
Hình 2
Lưu ý: Việc đặt địa chỉ TCP/IP tĩnh là điều bắt buộc trong các mạng ngang hàng dùng giao thức TCP/IP. Nhưng với mạng cục bộ chạy trên nền Windows NT theo mô hình Client/Server bạn cũng nên đặt địa chỉ tĩnh để dễ dàng quản lý và phát hiện lỗi. Các máy tính trong mạng phải có địa chỉ IP không trùng nhau và phải cùng một Subnet Mask (xem hình 02).
Sau khi đã hoàn tất các bước trên thì các nút, các máy tính trong mạng LAN của bạn đã có thể trao đổi thông tin cho nhau, chia sẻ tài nguyên giữa các máy.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
11:56 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
March 9, 2008
Router tự động ngắt mạng

Hỏi: Hiện tôi đang sử dụng Router D-Link DSL-2640T mua tại cửa hàng Phong Vũ, tôi dùng gói HomeE của Viettel, tôi hay gặp tình trạng đang sử dụng thì bị mất kết nối, tình trạng này xảy ra trong khoảng 10-20 giây và không thường xuyên.
Tôi đã nhờ đơn vị cung cấp đường truyền kiểm tra thì thấy tín hiệu ADSL vẫn bình thường và rất ổn định khi dùng Router khác. Tôi cũng đã cập nhật bản firmware mới nhất cho router của tôi song tình trạng này vẫn xảy ra. Tôi xin hỏi nếu bây giờ tôi đem đến Phong Vũ bảo hành thì tôi sẽ được hỗ trợ ra sao? Thời gian bảo hành là bao lâu? Trong lúc đợi bảo hành, tôi có được đổi cho một router khác để sử dụng tạm thời hay không?
Đáp:
Theo mô tả của bạn thì bạn chưa thử gắn router vào một đường truyền khác để xem có bị lỗi như vậy không. Nếu thực sự lỗi nằm ở router, bạn có thể trực tiếp đem đến trung tâm bảo hành để chúng tôi kiểm tra. Theo quy định của Phong Vũ thì chỉ những sản phẩm bảo hành quá 7 ngày, chúng tôi mới đưa một sản phẩm thay thế cho bạn dùng tạm, tuy nhiên thông thường sản phẩm router được bảo hành không quá 3 ngày.
Theo echip
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
9:29 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
February 16, 2008
Mẹo Khi Không Kết Nối được Vào Internet
1. Khởi động lại kết nối
Cách đơn giản nhất là bấm chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection trên khay hệ thống (hoặc vào bằng cách bấm chuột phải ở icon My Network Places > chọn Properties > Disable. Sau đó, bấm Enable lại.
Nếu cách này không được, người dùng có thể thử các biện pháp liên quan đến địa chỉ IP:
2. Lấy lại địa chỉ IP
Nếu thuê bao DSL hay cáp, bạn có thể đang dùng địa chỉ IP động - có nghĩa là địa chỉ kết nối PC với Internet sẽ thay đổi mỗi lần đăng nhập. Địa chỉ này được chỉ định nhờ giao thức DHCP. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DHPC có thể không cấp địa chỉ mới khi máy khởi động và bạn sẽ "kẹt" với địa chỉ IP cũ và không kết nối được Internet.
Dù hệ thống kết nối trực tiếp qua modem hay router, bước đầu tiên bạn phải làm là lấy một địa chỉ IP được chỉ định bằng cách nhấn chuột phải vào biểu tượng kết nối mạng trên khay hệ thống, chọn Repair. Windows sẽ tự động loại bỏ địa chỉ cũ và yêu cầu địa chỉ mới từ router hoặc nhà cung cấp dịch vụ (phụ thuộc vào cách PC được kết nối). Phần lớn các trường hợp, cách này khá hiệu quả. Nhưng nếu không khắc phục được, bạn phải giải quyết bằng tay.
Nhấn vào menu Start > Run > gõ cmd. (Trong Windows Vista, chỉ cần gõ cmd vào hộp thoại Start Search). Ở dấu nhắc đợi lệnh trên màn hình DOS, gõ ipconfig để xem địa chỉ IP hiện tại, subnet mask và gateway mặc định cho tất cả các adapter. Các adapter khác có thể bao gồm card Wi-Fi và Bluetooth, mặc dù chúng sẽ xuất hiện trong trạng thái không kết nối.
Bản thân câu lệnh này chỉ hiển thị thông tin chứ không làm được gì. Muốn lấy một địa chỉ IP khác, hãy gõ thêm tham số /release và /renew sau chữ ipconfig và một dấu cách. ipconfig /release sẽ điều khiển máy chủ DHCP xóa địa chỉ IP hiện có của tất cả các adapter, dù là mạng Ethernet hay không dây. Sau đó, lệnh ipconfig /renew nếu thành công thì một địa chỉ IP mới, một subnet mask mới và một gateway mặc định mới sẽ xuất hiện.
3. Kiểm tra cache DNS
Khi bạn vẫn kết nối được Internet nhưng không thể vào một trang nào đó, có thể trục trặc ở cache máy khách DNS gây ra điều này. DNS đã dịch tên văn bản tên miền Internet thành số IP. Ví dụ Amazon.com trở thành 207.171.171.132. Cache lưu một hồ sơ về các trang bạn đã ghé qua để lần sau, khi vào tiếp, sẽ tải nhanh hơn. Đôi khi, một phần của file bị hỏng và khiến PC không thể tìm lại nơi lưu trữ. Xóa cache chính là cách giải quyết vấn đề này.
Gõ dòng lệnh ipconfig /displaydns để xem danh sách các tranh đã ghé qua. Nếu không có tên trang web mà bạn cần vào thì gõ tiếp ipconfig /flushdns để xóa danh sách này. Sau đó, gõ lại địa chỉ web trên trình duyệt.
4. Dùng thêm các tham số khác của ipconfig
Các tham số của lệnh ipconfig.
Ipconfig có nhiều tham số khác dành cho việc xử lý rắc rối ở cấp độ cao hơn, và nếu bạn may mắn thì sẽ không bao giờ cần đến chúng. Gõ ipconfig /? để nghiên cứu thêm.
5. Ping địa chỉ IP
Cũng trong cửa sổ DOS, lệnh ping làm vai trò xác định kết nối mạng của máy tính. Việc ping này sẽ gửi gói dữ liệu tới host, có thể ví von giống như tàu ngầm truyền sóng âm tới một vật thể dưới nước để xác định khoảng cách, lệnh ping ước lượng thời gian đi hai chiều của gói tin, đưa nó về và hiển thị bất kỳ tình trạng mất gói tin nào.
Trước hết, nhìn lại địa chỉ IP của máy tính (ví dụ 127.0.0.1) và gõ ping 127.0.0.1 ở dấu nhắc đợi lệnh, đợi vài giây chờ phản hồi. Windows sẽ cố gắng ping đến card mạng của hệ thống xem thiết bị có hoạt động không. Nếu bạn nhận lại được gói tin nghĩa là adapter mạng hoạt động ổn. Giờ ping đến một địa chỉ ngoài bằng cách gõ vào đó, ví dụ ping google.com. Nếu có gói tin trả lại, kết nối mạng của bạn đã được thiết lập.
Tuy nhiên, nếu không nhận được gói tin này, bạn hãy thử ping địa chỉ IP của gateway mặc định. Nếu cách này cũng không được, phần cứng (modem, router, dây nối) của bạn có vấn đề và phải kiểm tra lại.
6. Kiểm tra phần cứng
Nếu máy tính nối trực tiếp với modem DSL, hãy kiểm tra các dây nối được gắn chặt với các điểm nối, đèn modem phải sáng. Kiểm tra lại cổng Ethernet trên PC xem đèn có sáng không. Nếu đèn tắt trong khi cáp được nối vào máy tính (bật điện) thì có nghĩa là phải thay cổng Ethernet.
Nếu đèn sáng mà vẫn không có kết nối, hãy tắt các thiết bị mạng của bạn và đợi một lát rồi bật lại. Cần làm theo các trình tự sau đây.
- Tắt PC, rút dây điện của modem. Nếu đang dùng router thì tháo dây điện củarouter.
- Sau đó khởi động lại modem. Sau khi nó đã khởi động xong và có đèn báo kết nối, hãy bật router và đợi router khởi động lại.
- Khi hoàn thành việc này, bật PC, mở trình duyệt để kiểm tra kết nối.
Nếu tất cả các thao tác trên đều thất bại thì đã đến lúc bạn phải gọi hỗ trợ từ nhà cung cấp dịch vụ. Hãy cho họ biết bạn đã làm những thao tác trên để họ không phải làm lại, mất thời gian. Có thể nguyên nhân là một lỗi nào đó trong hệ thống hay trên đường dây kéo từ ngoài vào nhà bạn.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
11:31 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
January 27, 2008
Một số thuật ngữ về mạng
AAL: (ATM Adaptation Layer). Một phần của các giao thức chuẩn ATM.
ABR:. Available Bit Rate, một tham số cho dịch vụ trong ATM mà không bảo đảm cho tốc độ.
. Area Border Router, một quy ước trong OSPF cho một bộ định tuyến để thông tin liên lạc với vùng khác.
ACK: Viết tắt của từ Acknowledgement
ACK implosion: Để chỉ môt vấn đề mà có thể xảy ra với giao thức mutilcast đáng tin cậy, trong đó có nhiều ACK đi ngược trở về nguồn.
AH: (Authentication Header).Một phần đầu được sử dụng bởi IPsec để đảm bảo việc xác minh nguồn gốc của datagram.
ANSNET:.Một mạng diện rộng mà đã hình thành nên backbone của Internet cho đến năm 1995.
ARP: (Address Resolution Protocol). Giao thức TCP/IP được sử dụng để liên kết động một địa chỉ IP cấp cao vào một địa chỉ phần cứng cấp thấp.
AS: (Autonomous System). Một tập hợp cac bộ định tuyến và các mạng thuộc về một đơn vị quản trị và hợp tác chặt chẽ với nhau để nhân bản thông tin về khả năng đi đến các mạng (và thông tin định tuyến) giữa chúng với nhau, sử dụng giao thức cổng nội.
ASN-1: (Abstract Syntax Notation - 1). Giao thức chuẩn ISO được sử dụng bởi SNMP để thể hiện các thông điệp.
ATM: (Asynchronous Transfer Mode). Một kỹ thuật mạng định hướng kết nối mà sử dụng những cell nhỏ có kích thước cố định ở mức thấp nhất. ATM có ưu điểm về khả năng hỗ trợ dữ liệu thoại và video.
ATM Adaptation Layer (ALL):. Một trong số các giao thức được định nghĩa cho ATM để xác định cách một chương trình ứng dụng gửi và nhận thôgn tin qua mạng ATM.
ATMARP: Giao thức mà một máy sử dụng cho việc giải địa chỉ khi gửi IP qua mạng ATM.
AUI: Bộ kết nối đươc sử dung cho Ethernet dây dày.
BGP: ( Border Gateway Protocol)
Một kỹ thuật cổng ngoại chủ yếu, được sử dụng trong Internet.
BootTP: (BootStrap Protocol), một giao thức máy tính sử dụng để lấy thông tin khởi động từ server, bao gồm địa chỉ IP của nó.
CBT: (Core Based Tress)
Giao thức định tuyến multicast do nhu cầu điều khiển mà xây dựng nên cây dùng chung.
CGI: (Common Gateway Interface)
Một kỹ thuật mà server sử dụng để tạo trang Web tự động khi nhận được yêu cầu.
CIDR: (Classless Inter-Domain Routing)
Là chuẩn xác định các chi tiết của cả hai việc định địa chỉ không phân lớp cũng như mô hình định tuyến tương ứng.
COPS: (Common Open Policy Service)
Giao thức được sử dụng với RSVP để kiểm chứng xem lời yêu cầu có thoả mãn các chính sách ràng buộc.
DHCP: (Dynamic Host Configuration Protocol)
Một giao thức mà máy sử dụng để lấy dược tất cả thông tin cấu hình cần thiết, bao gồm cả địa chỉ IP.
DNS: (Domain Name System)
Hệ cơ sở dữ liệu phân bố trực tuyến được sử dụng để ánh xạ các tên máy thông dụng đối với con người thành các địa chỉ IP.
DVMRP: (Distance Vector multicast Routing Protocol)
Một giao thức được sử dụng để nhân bản các tuyến đường multicast.
EGP: (Exterior Gateway Protocol)
Một thuật ngữ áp dụng cho giao thức nào được sử dụng bởi bộ định tuyến trong một hệ tự quản để thông báo khả năng đi đến mạng cho ho bộ định tuyến trong hệ tự quản khác.
FIN: Một segment TCP đặc biệt được dùng để đóng một kết nối.
FTP: (File Transfer Protocol)
Chuẩn TCP/IP, giao thức cấp cao cho việc truyền tập tin từ máy này đến máy khác.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
10:59 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
January 8, 2008
Kiểm tra kết nối mạng

Hỏi: Em có ba máy tính và modem kết nối chung với switch 8 port, bấm cáp theo T568B, nhưng chỉ có một máy truy cập được internet. Vậy làm cách nào để các máy có thể truy cập được vào mạng internet chung. Nếu em dùng loại modem 4 port để kết nối các máy thì phải thiết lập như thế nào ?
Trả lời:
Bạn làm theo các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra từng máy, mở cửa số Network Connection, nhấp chuột phải vào biểu tượng mạng Local Area Connection, nếu dòng đầu tiên là Enable thì nhấp chuột trái vào dòng này. Kiểm tra xem các máy có thông mạng nội bộ không?
Bước 2: Kiểm tra kết nối giữa máy tính với modem, bằng lệnh Ping đến địa chỉ IP của modem (tùy nhà sản xuất, thường là 192.168.1.1), xem có Replay không? Ping tiếp đến địa chỉ IP của nhà cung cấp ADSL (của FPT : 210.245.31.130, VNN : 203.162.4.190), xem có Replay? Nếu cả hai đều không có Replay, thì nên kiểm tra dây mạng, card mạng.
Dùng modem 4 port, cách thiết lập tương tự như dùng switch.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
11:10 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
December 30, 2007
Thủ thuật cấu hình máy tính từ xa

Công cụ Remote Desktop Connection có thể giúp bạn kết nối tới một thiết bị máy chủ đầu cuối. Trước đây công cụ này phải được cài đặt trên máy tính sử dụng hệ điều hành Windows 2000 hay các phiên bản trước đó, nhưng hiện nay thì nó đã có thể được cài đặt trên Windows XP.
Với sự trợ giúp của Remote Desktop Connection, các ứng dụng có thể được chạy trên máy tính xa từ mọi máy tính khác cài hệ điều hành Windows. Trong khi các ứng dụng được điều khiển trên các máy tính từ xa thì thao tác nhập vào từ bàn phím và chuột cũng như các dữ liệu hiển thị trên màn hình sẽ được truyền qua mạng từ máy tính cục bộ tới các máy tính từ xa.
Các thành phần tạo nên khả năng truy cập Remote Desktop là giao thức truy cập từ xa (Remote Desktop Protocol) và các phần mềm máy khách như Remote Desktop Connection và Remote Desktop Web Connection.
Như đã đề cập ở trên, công cụ Remote Desktop Connection có thể được cài đặt trên XP, thì nó chỉ được cho phép cài đặt trên máy tính, và bạn sẽ phải thiết lập, sau đó triển khai công cụ này trên những phiên bản Window khác. Trong bài này, tôi sẽ lần lượt bao trùm cụ thể cả hai chủ đề này, đồng thời cũng sẽ cung cấp một số mẹo nhỏ giúp bạn tăng biện pháp bảo mật.
Cấu hình Remote Desktop: Windows XP Professional
Các bước kích hoạt Remote Desktop trên máy tính sử dụng hệ điều hành XP Professional:
• Đăng nhập vào máy tính sử dụng quyền quản trị viên.
• Kích phải chuột tại ‘My Computers’ và chọn ‘Properties’.
• Tại thẻ ‘System Properties’, chọn thẻ ‘Remote’.
• Kích chọn hộp kiểm ‘Allow users to connect remotely to this computer’.
• Tiếp theo chọn ‘Remote Users’.
• Kích ‘Add’ trên hộp thoại ‘Remote Desktop Users’.
• Thêm tên người dùng hay tên nhóm sẽ được phép truy cập vào máy tính từ xa.
• Cuối cùng, cài đặt Remote Desktop Connection hoặc Terminal Services Client trên máy cục bộ mà bạn thiết lập để truy cập tới máy tính từ xa.
Cấu hình Remote Desktop: Các phiên bản trước của Windows
Các bước kích hoạt Remote Desktop trên máy tính sử dụng phiên bản hệ điều hành Windows trước:
• Cho đĩa CD cài đặt hệ điều hành Windows XP Professional vào ổ CD. (Trường hợp CD không hiển thị, bạn có thể tải về gói cài đặt từ trang web của Microsoft).
• Kích ‘Perform Additional Task’ trên màn hình hiển thị đầu tiên. Sau đó kích ‘Setup Remote Desktop Connection’.
• Tại ‘Remote Desktop Connection – Install Shield' hiện ra tiếp theo, bạn thực hiện theo tất cả các chỉ dẫn cho đến khi hoàn thành các bước cài đặt.
Cuối cùng, cài đặt Remote Desktop Connection hoặc Terminal Services Client trên máy cục bộ mà bạn thiết lập để truy cập tới máy tính từ xa.
Cấu hình Remote Desktop Connection tăng cường bảo mật
Bạn cần kết hợp một số phương pháp để tăng cường bảo mật mạng như sau:
• Thiết lập mật khẩu phức tạp: Khi Remote Desktop yêu cầu mật khẩu đăng nhập Windows, chú ý rằng mật khẩu càng phức tạp thì sẽ càng an toàn. Một mật khẩu an toàn là mật khẩu bao gồm từ 10 tới 16 ký tự trên bảng chữ cái.
• Thay đổi Listening Port của Remote Desktop: Trên máy chủ, thay đổi cổng mặc định được sử dụng bởi Remote Desktop Connection. Những thay đổi này sẽ được thực hiện tại registry.
• Cấu hình Router: Tất cả router đều có các mật khẩu mặc định giống nhau. Các mật khẩu này có thể phải thay đổi ngay lập tức. Bạn sẽ phải cấu hình router do đó các kết nối tới máy tính từ xa được cho phép bao gồm quá trình kết nối một cổng trên router tới một cổng trên máy cục bộ. Cổng này sẽ bị vô hiệu hóa trong khoảng thời gian dài không hoạt động.
• Vô hiệu hóa địa chỉ Clipboard: Khi vô hiệu hóa đặc tính này, bạn có thể ngăn chặn người dùng sao chép văn bản từ máy chủ sang máy cục bộ và dán văn bản từ máy tính cục bộ tới máy chủ.
• Vô hiệu hóa địa chỉ máy in: Khi vô hiệu hóa đặc tính này, người dùng không thể sử dụng máy in được nối tới máy tính cục bộ để in ấn bất kỳ tài liệu nào được lưu trữ trên máy chủ.
• Vô hiệu các đặc tính cao cấp: Việc làm này không phải liên quan đến đặc tính bảo mật nhưng nó tăng tốc độ Remote Desktop. Để tăng tốc độ, hãy bảo đảm rằng mọi đặc tính cao cấp trên máy tính đã được vô hiệu hóa. Để thực hiện điều này hãy kích vào Control Panel Control Panel – System – Properties – Advanced – Performance Settings Button – Adjust for Best Performance.
Nếu bạn đang gặp phải bất kỳ vấn đề rắc rối nào trong quá trình cài đặt, cấu hình hay cho phép kích hoạt Remote Desktop Connection, bạn sẽ tìm thấy nhiều thủ thuật giúp giải quyết vấn đề này qua trên website Quản Trị Mạng.
Kết luận: Các máy để bàn từ xa cung cấp phương tiện truy nhập máy chủ từ một vị trí ở xa giúp bạn có được sự truy cập linh hoạt. Chắc chắn rằng bạn đã xử lý mọi vấn đề liên quan đến bảo mật và đã cấu hình để sử dụng tối đa công cụ
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
11:55 AM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN
December 8, 2007
Tự lắp đặt mạng LAN ở nhà như thế nào ?

Khi bạn có hai chiếc máy tính, bạn có thích thử nghịch ngợm với nó một chút không. Hãy thử kết nối 2 chiếc máy tính đó lại với nhau để tạo một mạng “LAN” nhỏ nhỏ của mình xem sao …
Có rất nhiều cách để kết nối hai máy tính lại với nhau. Việc này thường được thực hiện khi có nhu cầu truyền dữ liệu giữa hai máy hoặc chơi game giữa hai người với nhau. Dưới đây là hai cách để kết nối hai máy tính một cách rất rẻ :
Cáp truyền dữ liệu qua cổng song song (Parallel Data Transfer Cable) – Sử dụng một cáp DB25 female với một cáp DB25 female để kết nối hai máy tính thông qua cổng song song (hay cổng máy in). Việc này có thể thực hiện được với các hệ điều hành Windows 95/98/2000, kết nối trực tiếp thông qua cáp (Direct Cable Connection - DCC).
Cáp chéo Ethernet (Ethernet Crossover Cable) – Bạn phải có một card mạng ethernet (network interface card - NIC) ở cả hai máy tính trong trường hợp này. Nếu bạn sử dụng ethernet card với jack RJ45 (tương tự như là jack cắm điện thoại nhưng to hơn), bạn chỉ cần một đoạn cáp chéo RJ45 to RJ45 Category 5 (một loại cáp trong kỹ thuật kết nối mạng mà bạn có thể dễ dàng tìm đọc ở các tài liệu).
Tuy nhiên, bạn không cần phải có một cáp chéo nếu như bạn kết nối hai máy tính thông qua cổng ethernet hub. Trong trường hợp này bạn chỉ cần 2 đoạn dây cáp có hai đầu theo đúng chuẩn Category 5 để kết nối đến hub.
Điều đáng quan tâm ở đây là “phần mềm” để kết nối được hai máy tính, bạn sẽ phải thiết lập các thông số giao thức mạng dạng TCP/IP, NetBUI, hay IPX cho thích hợp với ethernet card của mình (có thể tìm ở trong Start --> Settings --> Control Panel --> Network --> Local area connection). Nếu bạn sử dụng giao thức TCP/IP, bạn sẽ phải cài đặt các địa chỉ IP khác nhau và subnet mask như nhau cho phần TCP/IP properties của mỗi máy tính. Ví dụ : Máy 1 có thể có địa chỉ IP 192.168.0.1 & subnet 255.255.255.0, và máy 2 có thể có địa chỉ IP là 192.168.0.2 & subnet 255.255.255.0. Bạn phải đánh tên Workgroup như nhau trong thanh tab Identification.
Ngoài ra bạn có thể sử dụng cáp nối trực tiếp USB (USB Direct Link Cable) – Loại cáp này được sử dụng bằng cách cắm trực tiếp vào hai cổng USB của hai máy tính. Cả hai máy tính đều phải chạy hệ điều hành Windows có hỗ trợ USB (Các versions sau cùng của Windows 95 hay Windows 98, và các phiên bản Windows sau này).
Một ví dụ cho cách kết nối này là sử dụng dây nối USB ADP3181 có cung cấp các giải pháp cho việc truyền file, nối mạng trong hộ gia đình, đặc biệt là trong các văn phòng nhỏ. Nó cung cấp một các nhanh chóng và dễ dàng cho việc thông tin host-to-host ở tốc độ kết nối Ethernet™ 10Base-T. Với cách này bạn sẽ không cần một chiếc card mạng nào cả và tốc độ đạt được có thể đến 6 Mbps.
Tuy nhiên khi tính đến giá cả thì nó đắt hơn nhiều hai phương pháp kể trên. Và có lẽ bạn nên thử bằng hai cách trên nếu nhu cầu của bạn chỉ là để “vọc” thử chứ không phải để kinh doanh hay làm việc với yêu cầu cao.
Posted by
NETSOFTUSA CENTER
at
2:14 PM
0
COMMENTS
Gởi cho Bạn Bè
CHUYÊN ĐỀ: MẠNG LAN-WAN